Ba chân kiềng quan trọng
Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và nền tảng; Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của tăng trưởng; còn Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt trọng tâm vào chất lượng dòng vốn FDI và mức độ đóng góp của khu vực này đối với nền kinh tế trong nước.
Ba nghị quyết quan trọng trên đặt nền móng cho việc phân định rõ hơn vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế. Điểm then chốt là 3 định hướng này có thể chuyển hóa thành những dự án và chuỗi giá trị mà các khu vực kinh tế thực sự bổ trợ cho nhau, thay vì mỗi khu vực tiếp tục phát triển theo một hướng riêng.
| Các khu công nghiệp cần nâng chất lượng hạ tầng, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Trong ảnh: Nhà máy của Sadesa tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 3. Ảnh: Lê Toàn |
Trong lĩnh vực hạ tầng, Nhà nước nên xác định mục tiêu là phục vụ lợi ích công, chuẩn bị dự án một cách bài bản và chịu trách nhiệm đối với những rủi ro mà chỉ Nhà nước mới có thể kiểm soát, bao gồm giải phóng mặt bằng, quy hoạch, cấp phép và bảo đảm tính ổn định, nhất quán của chính sách.
Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần tham gia sâu hơn, thay vì chỉ đảm nhận vai trò nhà xây dựng hay nhà thầu phụ, từ phát triển dự án, sở hữu, vận hành đến cung cấp các giải pháp kỹ thuật chuyên sâu. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đóng góp nguồn vốn dài hạn, công nghệ và kinh nghiệm phát triển, vận hành những tài sản hạ tầng phức tạp.
Một dự án thành công cần tạo ra hai loại tài sản. Thứ nhất là chính công trình đường bộ, cảng, đường sắt, hệ thống năng lượng hoặc cơ sở công nghiệp. Thứ hai là năng lực được tích lũy trong quá trình phát triển dự án, bao gồm việc tăng cường năng lực cho các nhà cung cấp trong nước, đội ngũ quản lý dự án giàu kinh nghiệm hơn, nâng cao năng lực kỹ thuật và các doanh nghiệp nội địa có khả năng đảm nhận vai trò lớn hơn trong những dự án sau đó.
Thước đo cuối cùng sẽ nằm ở chỗ những nguyên tắc này được cụ thể hóa trong từng cấu trúc dự án. Nhà đầu tư chỉ có thể rót vốn khi dự án có dòng doanh thu rõ ràng, hợp đồng có tính thực thi, tiến độ khả thi và cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý. Nếu tạo dựng được những nền tảng đó, Việt Nam không chỉ huy động được nguồn lực cho phát triển hạ tầng, mà còn có thể nâng cao năng lực của chính nền kinh tế trong nước.
Phát triển đầu tư
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu Việt Nam cần nhìn nhận rộng hơn những gì mà một dự án đối tác công - tư (PPP) cần mang lại. Quy mô vốn cam kết, chi phí xây dựng và thời gian hoàn thành vẫn là những tiêu chí quan trọng, nhưng chưa phản ánh đầy đủ giá trị kinh tế của dự án, cũng như mức độ đóng góp của dự án vào quá trình nâng cao năng lực của khu vực FDI tại Việt Nam.
Một dự án PPP được thiết kế tốt không chỉ cần tạo ra một công trình có thể vận hành hiệu quả, mà còn phải góp phần nâng cao năng lực của Việt Nam trong phát triển và vận hành những dự án tương tự trong tương lai. Chuyển giao công nghệ vì thế không nên chỉ dừng ở thiết bị hay quyền sở hữu trí tuệ, mà cần bao gồm cả phương pháp kỹ thuật, quy trình vận hành, hệ thống bảo trì, quản lý dự án, dữ liệu và cả năng lực xử lý, ra quyết định được hình thành qua thực tiễn.
Những mục tiêu này cần được đưa vào ngay từ khâu lựa chọn nhà đầu tư. Hồ sơ dự thầu có thể được đánh giá dựa trên kế hoạch phát triển nhà cung ứng Việt Nam, đào tạo nhân sự kỹ thuật và quản lý, chia sẻ trách nhiệm vận hành, cũng như từng bước mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước trong suốt vòng đời dự án. Các cam kết cần cụ thể, có thể đo lường, nhưng phải được thiết kế phù hợp với từng dự án, thay vì áp dụng một công thức nội địa hóa chung cho tất cả.
Doanh nghiệp Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào phát triển, sở hữu, kỹ thuật và vận hành dự án để tích lũy năng lực cho các dự án sau. Vì vậy, cơ chế khuyến khích theo Nghị quyết số 10-NQ/TW cần gắn với kết quả có thể kiểm chứng, thay vì chỉ dựa vào cam kết khi dự án được chấp thuận. Những mục tiêu này không thể thay thế hiệu quả kinh tế của dự án. Nhà đầu tư vẫn cần dòng doanh thu rõ ràng, hợp đồng khả thi, môi trường pháp lý ổn định và cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý.
Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW nên được nhìn nhận là hai định hướng bổ trợ cho nhau. Trong phát triển hạ tầng, mỗi bên cần đảm nhận phần việc phù hợp nhất với năng lực và khả năng quản lý của mình.
Theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, Nhà nước cần xác định thực hiện dự án phục vụ mục tiêu công, chuẩn bị dự án, bố trí quỹ đất, đầu tư hạ tầng kết nối thiết yếu và duy trì môi trường pháp lý, hợp đồng ổn định. Những rủi ro mà khu vực tư nhân khó kiểm soát, như giải phóng mặt bằng, thay đổi quy hoạch và yêu cầu về dịch vụ công, cần tiếp tục do Nhà nước đảm nhận. Khi doanh nghiệp nhà nước tham gia hoạt động kinh doanh, cần phân định rõ vai trò kinh doanh với trách nhiệm thực hiện chính sách.
Nghị quyết số 68-NQ/TW cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân chuyển từ vai trò nhà thầu sang tham gia sâu hơn trong chuỗi giá trị dự án. Nhà đầu tư nước ngoài có thể mang đến nguồn vốn dài hạn, công nghệ và kinh nghiệm vận hành quốc tế, nhưng cần đóng vai trò bổ trợ, thay vì thay thế năng lực của doanh nghiệp trong nước.
Điều quan trọng không phải là tỷ lệ nội địa hóa trên giấy, mà là mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp trong nước. Thước đo nằm ở khả năng đảm nhận ngày càng nhiều công việc về kỹ thuật, vận hành và đầu tư trong các dự án tiếp theo.
Tránh phát triển xanh mang tính hình thức
Các nhà đầu tư quốc tế sẽ phân biệt rõ giữa một khu công nghiệp chỉ gắn nhãn sinh thái và một khu công nghiệp thực sự được vận hành trên nền tảng hạ tầng được quản lý bài bản. Các yếu tố môi trường chỉ có ý nghĩa về mặt thương mại khi giúp nâng cao độ ổn định, giảm chi phí và rủi ro vận hành, đồng thời đáp ứng yêu cầu của các nhà sản xuất mà khu công nghiệp hướng tới.
Với các nhà sản xuất, những yếu tố nền tảng vẫn là ưu tiên hàng đầu, gồm nguồn điện ổn định, nước, xử lý nước thải, kết nối giao thông, hạ tầng số và khả năng mở rộng. Năng lượng tái tạo dùng chung, tái sử dụng nước, xử lý chất thải tập trung và logistics được điều phối có thể nâng cao sức cạnh tranh của khu công nghiệp. Tuy nhiên, những giải pháp này chỉ thực sự có giá trị khi doanh nghiệp thuê đất biết rõ ai sở hữu và vận hành các hệ thống, chi phí dịch vụ được tính như thế nào, tiêu chuẩn nào được áp dụng và ai chịu trách nhiệm cho các khoản đầu tư tiếp theo.
Khu công nghiệp cũng cần được thiết kế theo từng nhóm ngành cụ thể. Doanh nghiệp bán dẫn, trung tâm dữ liệu, thiết bị y tế hay sản xuất pin có những yêu cầu rất khác nhau về điện, nước, dữ liệu, nhân lực, nhà cung ứng và quản lý môi trường. Nếu chỉ gọi chung là “công nghệ cao” thì chưa đủ để hình thành một chiến lược thu hút doanh nghiệp phù hợp.
Các tổ chức tài chính sẽ quan tâm đến chất lượng doanh nghiệp thuê đất, tính thực thi của hợp đồng, dòng tiền có thể dự báo và dữ liệu vận hành đáng tin cậy. Các loại chứng nhận có thể giúp củng cố uy tín, nhưng không thể thay thế các dữ liệu thực tế về mức tiêu thụ năng lượng, phát thải, sử dụng nước, hiệu quả xử lý và mức độ tuân thủ của doanh nghiệp thuê đất.
Những khu công nghiệp sinh thái có tiềm năng sẽ được vận hành như một nền tảng hạ tầng được quản lý, thay vì chỉ là quỹ đất công nghiệp. Nhãn “xanh” có thể thu hút sự chú ý, nhưng thứ nhà đầu tư rót vốn vào là hệ thống vận hành phía sau.
Việt Nam cần bắt đầu từ khâu chuẩn bị dự án. Nhà đầu tư cần các dự báo nhu cầu đáng tin cậy, nghiên cứu kỹ thuật, phương án sử dụng đất, mô hình tài chính và hợp đồng rõ ràng. Một danh sách dự án đề xuất chưa thể được xem là một danh mục dự án đủ điều kiện để đầu tư.
Vấn đề tiếp theo cần phải xem xét là phân bổ rủi ro. Khu vực tư nhân có thể đảm nhận các rủi ro về xây dựng, vận hành và tài chính. Nhà nước nên chịu trách nhiệm về giải phóng mặt bằng, quy hoạch, tính ổn định của chính sách và các yêu cầu về dịch vụ công. Bảo lãnh của Nhà nước nên tập trung vào những rủi ro do Nhà nước tạo ra hoặc có thể kiểm soát, thay vì bù đắp cho những dự án kém hiệu quả.
Việt Nam cũng cần mở rộng nguồn vốn dài hạn trong nước cho những tài sản có vòng đời vận hành dài. Các cơ chế khuyến khích cần gắn với kết quả đo lường được về vận hành, nhà cung ứng, nhân lực và môi trường.
Ưu tiên hiện nay là đề xuất thực hiện ít dự án hơn nhưng với chất lượng cao hơn. Trước khi đưa vào thực hiện, mỗi dự án cần làm rõ nguồn thu, phần đóng góp của Nhà nước, cơ chế phân bổ rủi ro, tình trạng pháp lý của quỹ đất và tiến độ lựa chọn nhà đầu tư.