| Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh báo cáo giải trình - Ảnh: QH. |
Nêu thực tế có tình trạng đầu cơ, mua bán ngắn hạn tạo khan hiếm và đẩy giá nhà lên quá cao, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết sẽ nghiên cứu đề xuất sử dụng phù hợp các công cụ điều tiết thị trường để ổn định mặt bằng giá nhà.
Báo cáo tiếp thu, giải trình sau phiên thảo luận tại hội trường về định hướng sừa đổi Luật Kinh doanh bất động sản sáng 22/8, Bộ trưởng Bộ Xây dựng hồi âm quan tâm của đại biểu về các giải pháp để tăng nguồn cung, từng bước đưa giá nhà về mức phù hợp với khả năng chi trả của người dân.
Theo Bộ trưởng, trong những năm gần đây, đặc biệt là thời gian gần đây, giá nhà ở một số đô thị tăng quá cao. “Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thấy các chi phí cấu thành giá nhà ở bất động sản tăng cao gồm có: tiền sử dụng đất, giá bồi thường giải phóng mặt bằng, chi phí xây dựng, chi phí đầu tư hạ tầng, chi phí vốn vay trong thời gian xây dựng, chi phí quản lý của nhà đầu tư, chi phí bán hàng, chi phí thuế...”, Bộ trưởng cho hay.
Người đứng đầu ngành xây dựng cũng đề cập thực tế thời gian qua, nguồn cung ở các phân khúc chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, thiếu nhà ở thương mại phân khúc trung bình và thấp, thiếu nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê, trong khi dư thừa phân khúc cao cấp. Bên cạnh đó, có tình trạng đầu cơ, mua bán ngắn hạn tạo khan hiếm và đẩy giá.
Nêu giải pháp trong thời gian tới, ông Minh nói Bộ Xây dựng sẽ tham mưu nghiên cứu hoàn thiện hồ sơ dự án sửa đổi Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản kết hợp với Luật Đất đai để phát triển mạnh mẽ nhà ở xã hội cũng như nhà ở cho thuê; điều chỉnh cơ cấu nguồn cung, khắc phục tình trạng dư thừa. Tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn các địa phương, doanh nghiệp triển khai mạnh các chỉ tiêu đã giao về nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê.
Cùng với đó là tiếp tục rà soát, nghiên cứu đề xuất sử dụng phù hợp các công cụ điều tiết thị trường như thuế, tín dụng, quy hoạch nhằm kiểm soát đầu cơ, hạn chế tình trạng đầu tư tích trữ bất động sản, định hướng nguồn lực vào nhu cầu thực chất và ổn định mặt bằng giá nhà.
Liên quan đến vấn đề nhiều đại biểu quan tâm là các điều kiện trước khi mở bán và sau khi mở bán, đặc biệt là quy định đặt cọc 5%, ông Minh nói, trước đây xảy ra nhiều trường hợp khi các dự án chưa đủ điều kiện pháp lý vẫn cho đặt cọc tràn lan, gây ra ảnh hưởng tiêu cực trong xã hội. Vì vậy, trong Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 đã quy định điều kiện đặt cọc tối đa không quá 5%.
Nhưng đặt cọc ở đây không phải là khi dự án chưa có gì, mà phải đủ các điều kiện về thủ tục hồ sơ pháp lý của dự án; thứ hai là hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai; thứ ba là phải triển khai thi công xây dựng, ít nhất là phải xong phần móng thì mới được phép thông tin bán hàng đến khách hàng. Các quy định này rất chặt chẽ ở các nghị định và thông tư dưới luật, Bộ trưởng làm rõ.
Về vướng mắc liên quan đến quy định giữ lại 5% cho đến khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như tài sản là nhà ở gắn liền với đất, Bộ trưởng cho hay, luật sửa đổi lần này sẽ đưa số tiền 5% đó vào một tài khoản phong tỏa để bảo đảm chủ đầu tư giữ uy tín với khách hàng và thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi làm việc với cơ quan nhà nước.
“Các đại biểu có ý kiến là tại sao họ lại không làm trước? Thực tế là không thể làm trước được, vì tất cả công trình phải nghiệm thu hoàn thành, đưa vào sử dụng đầy đủ các điều kiện cho phép thì mới có thể thực hiện được bước này để cấp giấy chứng nhận”, Bộ trưởng giải thích.
Với quy định về hợp đồng kinh doanh bất động sản, Bộ trưởng khẳng định “trong dự thảo luật này đã sửa đổi rất cẩn thận”. Ví dụ, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 có 11 loại hợp đồng kinh doanh bất động sản, 4 loại hợp đồng kinh doanh dịch vụ bất động sản tại Điều 44, và có 3 loại hợp đồng kinh doanh bất động sản được chuyển nhượng theo quy định của luật tại Điều 49. Dự thảo lần này quy định theo 5 nhóm tại Điều 33 và mở rộng lên thành 5 loại hợp đồng tại Điều 37.
Lần sửa đổi này, theo Bộ trưởng, cắt giảm được 4/12 thủ tục hành chính, 9/31 điều kiện kinh doanh; đơn giản hóa 7/12 thủ tục hành chính và giữ nguyên 1 thủ tục hành chính. Kết quả là giảm được từ 118 trên 190 ngày để giải quyết thủ tục hành chính, đạt tỷ lệ 62,1%.