| Thảm bê tông nhựa tại đoạn đầu tuyến cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng. |
Những ngày đầu tháng 5/2026, công trường Dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) gần như không có khoảng lặng. Trên toàn tuyến, hàng trăm mũi thi công cầu, hầm, nền đường vẫn duy trì nhịp độ thi công liên tục để tranh thủ quỹ thời gian khô ráo trước khi khu vực Đông Bắc Bộ bước vào cao điểm mùa mưa.
Cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh có tổng chiều dài 121 km, kết nối hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng, được đầu tư theo 2 giai đoạn với tổng mức đầu tư khoảng 26.000 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn I dài 93,35 km, bao gồm 64 cầu vượt qua sông Kỳ Cùng, sông Bằng Giang, nhiều khe suối và các tuyến tỉnh lộ.
Giai đoạn I của Dự án có 2 hầm xuyên núi gồm Đông Khê dài khoảng 500 m và Thất Khê dài khoảng 200 m. Đến nay, công tác thi công các hạng mục trong và ngoài hầm cơ bản hoàn thiện.
Giai đoạn II bao gồm mở rộng 93,35 km đã đầu tư ở giai đoạn I và xây mới thêm 27,71 km cao tốc, gồm 17 cầu và 3 hầm xuyên núi nối lên cửa khẩu Trà Lĩnh (tỉnh Cao Bằng).
Toàn Dự án hiện triển khai 132 mũi thi công cầu, hầm, nền đường với gần 900 máy móc, thiết bị và hơn 2.000 kỹ sư, công nhân. Một số đoạn tuyến đang được tổ chức mở rộng nền đường từ 17 m lên 22 m theo quy mô hoàn thiện của giai đoạn II.
Đặc biệt, trên công trường hiện đã huy động 4 dây chuyền thảm bê tông nhựa công suất lớn để tăng tốc thi công mặt đường. Đến nay, tổng sản lượng thực hiện các gói thầu xây lắp đạt 8.726,34/14.628,76 tỷ đồng, tương đương khoảng 74% giá trị hợp đồng.
Đây được xem là nền tảng quan trọng để các đơn vị thi công hướng tới mục tiêu hoàn thành khoảng 93 km từ Đồng Đăng (Lạng Sơn) đến Đông Khê (Cao Bằng) với quy mô nền đường 22 m vào cuối tháng 12/2026.
Cần phải nói thêm rằng, cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh được đánh giá là một trong những Dự án đường bộ có điều kiện thi công phức tạp nhất khu vực miền núi phía Bắc khi tuyến đi qua địa hình núi cao hiểm trở, chia cắt mạnh, nhiều khu vực taluy dốc lớn, nền địa chất phức tạp và thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lũ, sạt trượt.
Đặc biệt, tuyến phải triển khai đồng thời nhiều hạng mục cầu, hầm, xử lý nền đất yếu và các đoạn đào sâu, đắp cao trong điều kiện mặt bằng thi công chật hẹp, khó tiếp cận thiết bị cơ giới cỡ lớn. Công tác vận chuyển vật liệu, tổ chức thi công cũng gặp nhiều khó khăn do hệ thống giao thông kết nối hạn chế.
Không chỉ áp lực về địa hình, Dự án còn chịu sức ép lớn về tiến độ khi vừa phải chạy đua với thời tiết, vừa xử lý các phát sinh địa chất, giải phóng mặt bằng và bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng tại khu vực miền núi.
Theo ông Đặng Tiến Thắng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh (doanh nghiệp Dự án), khó khăn lớn nhất hiện nay là giá nhiên liệu và vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng tăng rất cao kể từ khi xung đột Trung Đông bùng phát.
Ngay trong tháng 3 vừa qua, nhà đầu tư và doanh nghiệp Dự án đã liên tiếp có văn bản gửi UBND tỉnh Cao Bằng đề nghị hỗ trợ nhằm bảo đảm việc triển khai thi công liên tục. Động thái này đã góp phần cơ bản duy trì được nguồn cung xăng dầu cho công trường.
“Tuy nhiên, tình trạng giá tăng đột biến so với dự toán vẫn chưa được kiểm soát, vượt xa mức dự phòng trượt giá trong tổng mức đầu tư Dự án”, ông Đặng Tiến Thắng cho biết.
| Thi công lớp cấp phối nền đường tại cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh. |
Trong khi đó, tại Lạng Sơn, Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng cũng đang bước vào giai đoạn thi công nước rút.
Là phân đoạn đầu của tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Dự án cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng có chiều dài khoảng 60 km, đi qua 7 xã, phường trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Dự án được đầu tư theo phương thức PPP với tổng mức đầu tư 11.029 tỷ đồng.
Dự án được khởi công từ tháng 4/2024 và hiện đang được triển khai với nhịp độ khẩn trương. Theo kế hoạch, toàn bộ Dự án sẽ hoàn thành vào ngày 30/9/2026, vượt tiến độ khoảng 3 tháng so với phương án ban đầu.
Để đáp ứng mục tiêu này, lực lượng thi công hiện huy động khoảng 2.600 nhân sự, 1.200 thiết bị và triển khai 130 mũi thi công. Giá trị thực hiện đến nay đạt 5.587,71/7.795,78 tỷ đồng, tương đương khoảng 71,67% giá trị hợp đồng điều chỉnh.
Trong chuyến kiểm tra Dự án ngày 6/5 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh ghi nhận tinh thần làm việc khẩn trương, quyết liệt của các lực lượng thi công; đồng thời yêu cầu tiếp tục huy động tối đa nhân lực, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành Dự án theo kế hoạch.
Để bảo đảm mục tiêu đưa Dự án về đích đúng và vượt tiến độ, doanh nghiệp Dự án kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sớm bố trí nguồn vốn ngân sách Trung ương sau khi điều chỉnh Dự án. Cụ thể, đề xuất Bộ Xây dựng có ý kiến với Chính phủ và Bộ Tài chính xem xét bố trí khoảng 2.200 tỷ đồng theo kiến nghị của UBND tỉnh Lạng Sơn.
Bên cạnh đó, đối với hạng mục trạm dừng nghỉ, doanh nghiệp Dự án cũng kiến nghị sớm hoàn thiện hành lang pháp lý. Việc ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung các quy định trong lĩnh vực đường bộ, trong đó có Nghị định số 165/2024/NĐ-CP, sẽ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư thống nhất phương án triển khai.
Công tác giải phóng mặt bằng tiếp tục được xác định là nhiệm vụ then chốt. UBND tỉnh Lạng Sơn đang chỉ đạo quyết liệt việc xử lý các vướng mắc liên quan đến đất ở, di dời hạ tầng kỹ thuật, đồng thời đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các vị trí đường gom, đường ngang trong tháng 5/2026.
PGS.TS Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (VARSI), cho rằng trong bối cảnh các Dự án cao tốc qua Cao Bằng và Lạng Sơn phải đối mặt với hàng loạt khó khăn kéo dài từ năm 2025 đến nay, các nhà đầu tư và nhà thầu đã thể hiện quyết tâm rất lớn trong việc duy trì mục tiêu đưa Dự án về đích trong năm 2026.
Theo vị chuyên gia này, ngoài tác động nặng nề của bão lũ, các đơn vị còn chịu áp lực lớn từ biến động giá xăng dầu, vật tư, vật liệu xây dựng, tình trạng khan hiếm nguồn cung cũng như khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, các nhà thầu đã chủ động lựa chọn giải pháp thi công phù hợp, tổ chức lại dây chuyền thi công theo hướng linh hoạt và khoa học hơn để nâng cao năng suất, bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình.
Ông cũng cho biết, trong quá trình triển khai tiếp tục xuất hiện nhiều yếu tố địa chất phức tạp đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc, đặc biệt là các hang karst và hiện tượng sạt trượt phát sinh ngoài dự báo. Có những vị trí buộc phải thay đổi giải pháp kỹ thuật, chuyển từ phương án nền đường sang cầu để bảo đảm an toàn và ổn định công trình. Điều này làm tăng đáng kể khối lượng, chi phí cũng như thời gian thi công.
Dù vậy, ông Trần Chủng đánh giá cao tinh thần vượt khó, sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà đầu tư và các nhà thầu trong việc vừa triển khai giai đoạn hoàn thiện, vừa thực hiện mở rộng một số đoạn tuyến theo quy mô 4 làn xe hoàn chỉnh, nền đường rộng 22 m nhằm đồng bộ với định hướng phát triển toàn tuyến.
Về giai đoạn nước rút từ nay đến cuối năm 2026, ông nhận định những thách thức lớn nhất sẽ đến từ điều kiện thời tiết bất thường, đặc biệt ảnh hưởng đến công tác thảm bê tông nhựa; đồng thời là nguy cơ phát sinh địa chất phức tạp, biến động nguồn vật liệu và thiếu hụt nhân lực thi công.
“Vì vậy, các nhà đầu tư và nhà thầu cần tiếp tục chủ động nhận diện đầy đủ các rủi ro để xây dựng kế hoạch thi công linh hoạt, sát thực tế và có dư địa ứng phó với các tình huống phát sinh”, ông Trần Chủng đề xuất.