Toàn cảnh đầu tư
Chính thức bổ sung sân bay thứ hai vùng Thủ đô vào quy hoạch cảng hàng không toàn quốc
Anh Minh - 07/07/2026 17:00
Lần đầu tiên, quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc xác định Cảng hàng không thứ hai vùng Thủ đô với quy mô cảng hàng không quốc tế, dự kiến nghiên cứu vị trí tại khu vực Ứng Hòa - Chuyên Mỹ trong giai đoạn trước năm 2030.
Cảng hàng không quốc tế Nội Bài (Ảnh: ACV).

Bộ Xây dựng vừa  ban hành Quyết định số 1140/QĐ - BXD phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Bám mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Đây là lần thứ 2 trong vòng 6 tháng qua, quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc được điều chỉnh. Khác với các lần điều chỉnh trước, lần điều chỉnh này được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, với việc cập nhật toàn bộ các giả định đầu vào về tăng trưởng kinh tế, nhu cầu vận tải, tổ chức không gian phát triển và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh để xây dựng phương án phát triển hệ thống cảng hàng không đến năm 2050.

Quy hoạch điều chỉnh đã cập nhật các chỉ tiêu phát triển mới của quốc gia, trong đó lấy mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030 và GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD vào năm 2030 làm cơ sở dự báo nhu cầu vận tải hàng không

Theo Quy hoạch điều chỉnh, trong thời kỳ 2021-2030, Việt Nam tiếp tục quản lý, đầu tư và khai thác hiệu quả các cảng hàng không hiện hữu, đồng thời quy hoạch phát triển 36 cảng hàng không, gồm 19 cảng hàng không quốc tế và 17 cảng hàng không nội địa.

Hệ thống cảng hàng không quốc tế bao gồm Cao Bằng, Vân Đồn, Cát Bi, Nội Bài, Gia Bình, Ninh Bình, Thọ Xuân, Vinh, Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Vân Phong, Cam Ranh, Liên Khương, Long Thành, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Phú Quốc và Côn Đảo. Trong khi đó, 17 cảng hàng không nội địa gồm Lai Châu, Điện Biên, Sa Pa, Nà Sản, Bạch Long Vĩ, Đồng Hới, Quảng Trị, Phù Cát, Tuy Hòa, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Măng Đen, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mau, Thành Sơn và Thổ Chu.

Định hướng đến năm 2050, Việt Nam sẽ hình thành 37 cảng hàng không, gồm 20 cảng hàng không quốc tế và 17 cảng hàng không nội địa. So với giai đoạn 2021-2030, điểm mới đáng chú ý là bổ sung Cảng hàng không thứ hai Vùng Thủ đô vào nhóm cảng hàng không quốc tế, nâng tổng số cảng hàng không quốc tế từ 19 lên 20.

Theo quy hoạch, hệ thống cảng hàng không quốc tế gồm Cao Bằng, Vân Đồn, Cát Bi, Nội Bài, Cảng hàng không thứ hai Vùng Thủ đô, Gia Bình, Ninh Bình, Thọ Xuân, Vinh, Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Vân Phong, Cam Ranh, Liên Khương, Long Thành, Tân Sơn Nhất, Cần Thơ, Phú Quốc và Côn Đảo.

Trong khi đó, 17 cảng hàng không nội địa được giữ nguyên gồm Lai Châu, Điện Biên, Sa Pa, Nà Sản, Bạch Long Vĩ, Đồng Hới, Quảng Trị, Phù Cát, Tuy Hòa, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Măng Đen, Thành Sơn, Phan Thiết, Rạch Giá, Thổ Chu và Cà Mau.

Đáng chú ý, tại Quyết định số 1140/QĐ-BXD, Bộ Xây dựng cho biết vị trí quy hoạch Cảng hàng không thứ hai Vùng Thủ đô sẽ được nghiên cứu, xác định trong giai đoạn trước năm 2030. Theo định hướng, sân bay này dự kiến được bố trí tại khu vực phía Nam Thủ đô Hà Nội, thuộc địa bàn xã Ứng Hòa và xã Chuyên Mỹ.

Bên cạnh hệ thống cảng hàng không được quy hoạch chính thức, Bộ Xây dựng cũng đưa vào danh mục nghiên cứu 5 cảng hàng không tiềm năng, gồm Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Lâm Đồng) và Tây Ninh. Trong đó, Hà Tĩnh dự kiến đặt tại xã Thiên Cầm và xã Yên Hòa; Lý Sơn tại Đặc khu Lý Sơn; Phú Quý tại Đặc khu Phú Quý; Tây Ninh tại xã Cầu Khởi, còn vị trí cảng hàng không Tuyên Quang sẽ tiếp tục được nghiên cứu.

Bộ Xây dựng cũng lưu ý vị trí các cảng hàng không này sẽ được nghiên cứu, lựa chọn phương án tối ưu hơn (nếu có) trong quá trình xây dựng Đề án nghiên cứu khả năng hình thành cảng hàng không.

Bước chuyển lớn về tư duy quy hoạch

Một điểm nhấn đáng chú ý khác tại Quyết định số 1140/QĐ-BXD là lần đầu tiên quy hoạch hệ thống cảng hàng không quốc gia đưa ra tiêu chí cụ thể để phát triển các trung tâm logistics hàng không với việc các trung tâm logistics sẽ được bố trí tại những cảng hàng không có nhu cầu vận tải hàng hóa từ 250.000 tấn/năm trở lên, bảo đảm điều kiện về kho vận và kết nối vận tải đa phương thức.

Bộ Xây dựng định hướng ưu tiên phát triển các trung tâm logistics hàng không tại khu vực Vùng Thủ đô, vùng TP.HCM và các cảng hàng không Vân Đồn, Cát Bi, Quảng Trị, Chu Lai, Long Thành, Cần Thơ; đồng thời xem xét mở rộng sang các cảng hàng không khác khi đáp ứng tiêu chí về sản lượng hàng hóa.

Bên cạnh đó, Quyết định số 1140 cũng định hướng hình thành mạng lưới trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay (MRO) tại các cảng hàng không có nhu cầu, trong đó ưu tiên đầu tư tại các cảng hàng không lớn, có hạ tầng đồng bộ và mạng đường bay quốc tế thuận lợi, gồm Vân Đồn, Nội Bài, Gia Bình, Chu Lai, Tân Sơn Nhất và Long Thành.

Đây là lần đầu tiên quy hoạch hệ thống cảng hàng không xác định rõ danh mục các sân bay ưu tiên phát triển trung tâm MRO, tạo cơ sở để hình thành ngành công nghiệp hàng không và chuỗi dịch vụ kỹ thuật có giá trị gia tăng cao tại Việt Nam.

Việc lần đầu đưa logistics hàng không và MRO trở thành những cấu phần chính thức của quy hoạch cho thấy định hướng phát triển đã chuyển từ hạ tầng hàng không đơn thuần sang phát triển kinh tế hàng không, phù hợp với xu hướng của các trung tâm trung chuyển lớn trong khu vực như Singapore, Incheon hay Hong Kong.

Tính linh hoạt cao

Đáng chú ý, Quyết định số 1140/QĐ-BXD cũng hiệu chỉnh các mục tiêu phát triển ngành hàng không đến năm 2030 theo hướng gắn chặt với nhu cầu vận tải và nâng cao chất lượng hạ tầng. Theo đó, tổng sản lượng thông qua hệ thống cảng hàng không được xác định đạt khoảng 249,14 triệu hành khách và 4,35 triệu tấn hàng hóa.

Cùng với việc ưu tiên đầu tư các đầu mối hàng không lớn tại Vùng Thủ đô (Nội Bài, Gia Bình) và vùng TP. Hồ Chí Minh (Tân Sơn Nhất, Long Thành), quy hoạch đặt mục tiêu nâng tổng công suất thiết kế của toàn hệ thống lên khoảng 249,14 triệu hành khách, đồng thời phấn đấu trên 95% dân số có thể tiếp cận cảng hàng không trong bán kính 100 km.

Không chỉ tập trung mở rộng năng lực khai thác, Quy hoạch điều chỉnh còn bổ sung định hướng đầu tư đồng bộ hệ thống quản lý bay theo tiêu chuẩn của ICAO, từng bước hình thành các trung tâm logistics hàng không, trung tâm đào tạo, huấn luyện bay và cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay.

Điều này cho thấy định hướng phát triển ngành hàng không đã chuyển từ mục tiêu gia tăng số lượng cảng hàng không sang xây dựng hệ sinh thái hạ tầng và dịch vụ hàng không hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển trong dài hạn.

Quyết định số 1140/QĐ-BXD cũng bổ sung nhiều định hướng mới về phát triển ngành hàng không theo hướng linh hoạt và hiện đại hơn. Thay vì ấn định cứng quy mô đầu tư của từng cảng hàng không, Bộ Xây dựng xác định quy mô và thời điểm đầu tư chỉ mang tính định hướng.

Việc triển khai đầu tư các cảng hàng không vừa được quy hoạch sẽ được xem xét trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu quốc phòng, an ninh, nhu cầu vận tải, khả năng cân đối nguồn lực và hiệu quả đầu tư.

Điều này sẽ tạo dư địa để đẩy nhanh hoặc điều chỉnh tiến độ đầu tư các cảng hàng không khi điều kiện thực tế thay đổi, thay vì phải chờ điều chỉnh quy hoạch như trước.

Quy hoạch cũng lần đầu đưa ra định hướng đầu tư, nâng cấp hệ thống quản lý hoạt động bay tầm thấp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý các phương tiện bay không người lái (UAV) và các phương tiện bay thế hệ mới.

Đây được xem là bước chuẩn bị cần thiết trong bối cảnh các loại hình bay mới phát triển nhanh, đặt ra yêu cầu hoàn thiện hạ tầng quản lý vùng trời bên cạnh hệ thống hàng không truyền thống.

Một điểm mới khác là hoạt động hàng không chung và các chuyến bay dân dụng không thường lệ sẽ được định hướng tập trung khai thác tại các cảng hàng không chuyên dùng hoặc các sân bay quy mô nhỏ, qua đó giảm áp lực cho các cảng hàng không có mật độ cất, hạ cánh cao.

Đồng thời, quy hoạch cũng mở rộng không gian phát triển các cảng hàng không chuyên dùng khi cho phép địa phương chủ động quy hoạch vị trí trong quy hoạch tỉnh, nghiên cứu khai thác lưỡng dụng một số sân bay quân sự và từng bước xem xét chuyển đổi cảng hàng không chuyên dùng thành cảng hàng không nội địa khi đáp ứng yêu cầu khai thác.

Đáng chú ý, Quy hoạch cũng mở ra cơ chế linh hoạt hơn đối với mạng cảng hàng không khi cho phép các cảng hàng không nội địa được khai thác các chuyến bay quốc tế không thường lệ nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.

Cùng với cơ chế chuyển đổi cảng hàng không chuyên dùng thành cảng hàng không nội địa khi phát sinh nhu cầu khai thác thường lệ, quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo dư địa khai thác hiệu quả hơn hệ thống hạ tầng hàng không hiện có, đồng thời giảm áp lực đầu tư mới trong ngắn hạn.

Tin liên quan
Tin khác