Đầu tư tài chính
Cuộc đua thứ hạng lợi nhuận ngân hàng: Ngôi vương có đổi chủ?
Hà Tâm - 09/07/2026 09:37
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý II/2026 đang phân hóa sâu sắc với sự thay đổi ngoạn mục về thứ hạng. Những ngân hàng sở hữu “tấm vé VIP” về tăng trưởng tín dụng đang bứt tốc trên đường đua này.
Các ngân hàng có lợi nhuận cao trong quý II/2026 đều nằm trong nhóm Big 4 (Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank). Ảnh: Đức Thanh

Thứ hạng lợi nhuận sẽ có nhiều thay đổi

Hiện các ngân hàng chưa công bố báo cáo tài chính quý II/2026, song khảo sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, các ngân hàng lạc quan về lợi nhuận quý II cũng như lợi nhuận cả năm nay.

Cụ thể, kết cuộc điều tra xu hướng kinh doanh quý III/2026 của NHNN cho thấy, các ngân hàng tin rằng lợi nhuận quý II có sự cải thiện nhờ cầu tín dụng - đặc biệt tín dụng của doanh nghiệp, tăng mạnh trong quý II. Tín dụng doanh nghiệp đã vượt qua nhóm khách hàng cá nhân để trở thành động lực tăng trưởng chính của hệ thống. Các tổ chức tín dụng kỳ vọng xu hướng này sẽ tiếp tục duy trì và cải thiện mạnh mẽ hơn trong nửa cuối năm.

Khảo sát của NHNN trùng hợp với kết quả nghiên cứu của các công ty chứng khoán. Theo đó, tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành năm nay dự báo ở mức 15%, trong đó nhiều ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận lên đến 40-50% trong nửa đầu năm nay. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý về lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm nay là có sự thay đổi ngoạn mục về thứ hạng của các nhà băng.

Nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, trong quý II/2026, top 3 ngân hàng dẫn đầu về lợi nhuận đều trong nhóm Big 4, thứ hạng lần lượt là VietinBank, Vietcombank và BIDV. Theo đó, VietinBank được dự báo sẽ soán ngôi vương của Vietcombank, trở thành ngân hàng có lợi nhuận trước thuế cao nhất hệ thống trong quý II/2026 với 15.417 tỷ đồng, cũng là ngân hàng có lợi nhuận cao nhất 6 tháng với 26.557 tỷ đồng.

Cơ cấu tín dụng đang ghi nhận sự chuyển dịch rõ rệt khi dòng vốn trung và dài hạn được dự báo tăng trưởng cao hơn ngắn hạn. Điều này phản ánh cấu trúc tín dụng đang tập trung sâu hơn vào các Dự án đầu tư tài sản cố định và hạ tầng, hoàn toàn phù hợp với định hướng hỗ trợ tăng trưởng bền vững của Chính phủ.

Trước đó, trao đổi với báo chí, ông Trần Minh Bình, Chủ tịch HĐQT VietinBank cũng tiết lộ, tính đến ngày 31/5/2026, VietinBank tăng trưởng tín dụng cao nhất trong nhóm Big 4, tổng tài sản vượt 3 triệu tỷ đồng.

Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, theo dự đoán của giới phân tích, MB, Techcombank và VPBank vẫn là 3 tên tuổi đứng đầu về lợi nhuận quý II/2026.

Tuy vậy, xét về lợi nhuận 6 tháng, rất có thể, tính đến hết quý II/2026, MB sẽ “soán ngôi” BIDV, vươn lên đứng thứ 3 toàn hệ thống.

Xét về tốc độ tăng trưởng, trong 6 tháng đầu năm, nhiều ngân hàng dự đoán sẽ ghi nhận tốc độ tăng trưởng rất lớn như: VPBank tăng 49%, VietinBank tăng 40%, OCB tăng 36%, HDBank tăng 22%, MB tăng 19%, Techcombank tăng 17%...

Theo khảo sát của NHNN, có tới hơn 84% ngân hàng tin tưởng lợi nhuận năm 2026 tăng trưởng dương. MBS dự đoán, lợi nhuận ngân hàng năm 2026 sẽ tăng 15%; trong khi đó, SSI research và Công ty Chứng khoán An Bình dự báo, lợi nhuận toàn ngành tăng 17-18%.

Về lợi nhuận 6 tháng đầu năm, các chuyên gia cho rằng, thu nhập lãi thuần tiếp tục là động lực tăng trưởng chính. Biên lãi ròng (NIM) cải thiện nhẹ cũng giúp lợi nhuận ngân hàng tăng tốc.

Cũng theo khảo sát của NHNN, cơ cấu tín dụng đang ghi nhận sự chuyển dịch rõ rệt khi dòng vốn trung và dài hạn được dự báo tăng trưởng cao hơn ngắn hạn. Điều này phản ánh cấu trúc tín dụng đang tập trung sâu hơn vào các dự án đầu tư tài sản cố định và hạ tầng, hoàn toàn phù hợp với định hướng hỗ trợ tăng trưởng bền vững của Chính phủ. Ở chiều ngược lại, đối với hoạt động huy động vốn, kỳ hạn ngắn hạn vẫn chiếm ưu thế với dự báo tăng trưởng cao hơn dài hạn, điều này cũng cho thấy áp lực thanh khoản với hệ thống sẽ còn kéo dài.

Nửa đầu năm nay, những ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận cao không chỉ là những ngân hàng được cấp room tín dụng tốt, mà còn là những ngân hàng có lợi thế huy động vốn. Nhóm ngân hàng Big 4 tiếp tục duy trì lợi nhuận cao nhờ có cơ cấu huy động vốn ổn định, nhiều nguồn tiền gửi giá rẻ.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân lớn hưởng lợi nhờ được cấp room tín dụng lớn (đặc biệt là các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém) song lại không thể phát huy hết thế mạnh của “room” do huy động vốn gặp khó khăn, phải duy trì lãi suất cao để huy động vốn, dẫn tới NIM bị thu hẹp so với cùng kỳ.

Việc NHNN ban hành chính sách mới, cho phép các nhà băng được cộng thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn huy động khi tính LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động) sẽ có lợi cho nhóm big 4 hơn là toàn thị trường. Tuy nhiên, chính sách này áp dụng từ cuối quý II/2026. Do đó, việc “hưởng lợi” này có thể được ghi nhận từ quý III/2026 rõ ràng hơn.

Lơ lửng nỗi lo thanh khoản, nợ xấu nửa cuối năm

Một loạt giải pháp về “gỡ thanh khoản” gần đây của Chính phủ và NHNN có thể sẽ khiến mặt bằng lãi suất nửa cuối năm hạ nhiệt, theo đó lợi nhuận toàn ngành sẽ cải thiện trong bối cảnh room tín dụng được mở rộng hơn. Tuy nhiên, nỗi lo thanh khoản vẫn còn kéo dài trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng cao hơn huy động vốn, chênh lệch huy động/cho vay lên tới vài triệu tỷ đồng.

Ngoài ra, nợ xấu đang rục rịch tăng cũng đe dọa miếng bánh lợi nhuận của các nhà băng.

MBS Research cho rằng, tốc độ cho vay đang tăng nhanh hơn đáng kể so với tốc độ huy động vốn từ dân cư và tổ chức kinh tế sẽ khiến áp lực thanh khoản tiếp tục gia tăng trong nửa cuối năm. Để duy trì nguồn vốn, nhiều ngân hàng buộc phải nâng lãi suất huy động, kéo theo chi phí vốn tăng nhanh hơn dự kiến.

Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) cho hay, hiện tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng đang chênh lệch khoảng 2%. Chỉ số LDR toàn hệ thống đang ở mức 111 - 112%, nghĩa là cho vay ra 112 đồng thì chỉ huy động được 100 đồng (còn 12 đồng ngân hàng phải huy động từ nguồn khác). Vì vậy, việc quản trị thanh khoản là vô cùng quan trọng.

Thời gian qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã chung tay xử lý vấn đề thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, với chênh lệch huy động/cho vay như hiện nay, thanh khoản vẫn là một trong những vấn đề đau đầu nhất của hệ thống thời gian tới.

Thông thường, cầu tín dụng sẽ tăng mạnh nửa cuối năm, điều này cũng sẽ khiến các ngân hàng phải nâng lãi suất để huy động vốn, khiến NIM bị thu hẹp hơn. Do đó, câu chuyện lợi nhuận ngân hàng nửa cuối năm không chỉ thuộc về các ngân hàng có lợi thế huy động vốn, mà còn là các ngân hàng có khả năng tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành.

Nói cách khác, bức tranh lợi nhuận năm nay phân hóa rất mạnh. Theo đó, những tấm vé ưu tiên không chỉ được gửi đến các ngân hàng tham gia tái cơ cấu hệ thống, các ngân hàng có tiền gửi Kho bạc Nhà nước dồi dào, mà còn là các ngân hàng mạnh tay cho vay các lĩnh vực ưu tiên (cho vay dự án trọng điểm, nhà ở xã hội…) cũng như các ngân hàng có chiến lược huy động vốn hiệu quả và tối ưu hóa vận hành.

Ngoài ra, chất lượng tín dụng cũng sẽ khiến bức tranh nợ xấu ngân hàng năm nay phân hóa sâu sắc. Theo ông Đào Minh Tú, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tình hình khó khăn của doanh nghiệp đang kéo theo nguy cơ nợ xấu hiện hữu và tiềm ẩn rất lớn, trong khi đó, việc xử lý nợ xấu lại đang gặp nhiều vướng mắc liên quan đến khâu xử lý tài sản đảm bảo.

“Khi Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực, tốc độ xử lý nợ xấu có dấu hiệu chậm lại do việc luật hóa các quy định thu hồi nợ chưa cụ thể, gây ra nhiều vướng mắc. Cần đồng bộ các quy định pháp luật liên quan như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản... nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong xử lý tài sản bảo đảm và thu hồi nợ”, ông Đào Minh Tú kiến nghị.

Cũng theo ông Đào Minh Tú, bài toán cân đối giữa đầu vào, đầu ra, biên lợi nhuận và an toàn hệ thống là vấn đề rất khó, nhưng bắt buộc phải xử lý. Do đó, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mang tính trung và dài hạn, thay vì để các ngân hàng thương mại tự gánh toàn bộ chi phí. Đồng thời, phải phát triển mạnh thị trường vốn trung và dài hạn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, trái phiếu và các quỹ đầu tư để giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng.

Tin liên quan
Tin khác