Đầu tư tài chính
Đằng sau cuộc đua tăng vốn của nhà băng
Hà Tâm - 14/04/2026 08:03
Nhu cầu vốn cho tăng trưởng quá lớn khiến tăng vốn trở thành một trong những vấn đề nóng nhất mùa đại hội đồng cổ đông thường niên (ĐHĐCĐ) năm nay của các ngân hàng.

Khi ngân hàng “hụt” hàng triệu tỷ đồng để cho vay

Chưa bao giờ, Tỷ lệ Dư nợ tín dụng trên vốn huy động (LDR) của ngành ngân hàng lại cao như hiện nay, đứng ở mức xấp xỉ 111% vào cuối năm 2025, cao nhất trong vòng nửa thập kỷ qua.

Tình trạng quy mô cho vay cao hơn quy mô huy động tiền gửi diễn ra phổ biến tại nhiều ngân hàng. Báo cáo tài chính riêng lẻ của VPBank năm 2025 cho thấy, huy động vốn từ khách hàng của ngân hàng này chỉ 631.000 tỷ đồng, trong khi dư nợ cho vay khách hàng lên tới 845.000 tỷ đồng. Con số này tại Techcombank lần lượt là 624.000 tỷ đồng và 723.000 tỷ đồng, tại VIB là 294.000 tỷ đồng và 377.000 tỷ đồng…

Tình trạng này tiếp tục diễn ra quý I/2026 khi tín dụng tăng 2,15% (tính đến 24/3/2026) trong khi huy động vốn chỉ tăng 0,44% so với cuối năm 2025.

Tổng quy mô dư nợ tín dụng đến cuối quý I đã lên tới 19 triệu tỷ đồng, trong khi huy động vốn chỉ khoảng hơn 17 triệu tỷ đồng. Nói cách khác, huy động vốn đang bị “hụt” gần 2 triệu tỷ đồng so với cho vay, buộc các ngân hàng phải “xoay” vốn bằng nhiều cách.

Hiện nay, nguồn vốn cho vay từ các nhà băng chủ yếu đến từ 4 nguồn: huy động từ dân cư; vay trên thị trường liên ngân hàng, từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), từ các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính quốc tế; phát hành giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu…); vốn chủ sở hữu.

Khi huy động vốn tăng chậm, các ngân hàng phải tăng vốn từ 3 nguồn còn lại, trong đó có vay trên thị trường liên ngân hàng và trái phiếu. Đây là một trong các lý do khiến lãi suất liên ngân hàng liên tục nóng lên từ đầu năm đến nay, thậm chí có thời điểm lên tới 21% (cho vay qua đêm). Trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), ngành ngân hàng cũng là “tay chơi” chính, khi chiếm tới 65% lượng TPDN phát hành năm 2025 và 43% trái phiếu phát hành mới trong 3 tháng đầu năm nay.

Đất nước đang bước sang giai đoạn phát triển cao (tăng trưởng 2 con số), nên việc tăng vốn của ngành ngân hàng giai đoạn này còn là yêu cầu bắt buộc, là sự chuẩn bị cho một chu kỳ tăng trưởng mới.

Ngoài ra, để có nguồn vốn phục vụ tăng trưởng, các nhà băng cũng rầm rộ tăng vốn chủ sở hữu thông qua nhiều cách, trong đó cách phổ biến nhất là phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu hoặc phát hành ra công chúng để tăng vốn điều lệ.

Đây cũng là lý do mùa ĐHĐCĐ năm nay, các nhà băng rầm rộ lên kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn từ nguồn lợi nhuận giữ lại. Tất nhiên, mục tiêu tăng vốn của các ngân hàng rất nhiều: nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo Hệ số An toàn vốn (CAR) theo chuẩn quốc tế (Basel II, III), đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh… Song, một trong những mục đích chính của tăng vốn vẫn là nhằm có thêm nguồn vốn để mở rộng quy mô tín dụng.

Hiện cuộc đua tăng vốn ngày càng khốc liệt. Trong tài liệu ĐHĐCĐ được công bố, Vietcombank muốn phát hành hơn 1 tỷ cổ phiếu thưởng, nâng vốn điều lệ lên gần 94.000 tỷ đồng. Việc phát hành cổ phiếu thưởng dự kiến mang về cho ngân hàng hơn 10.686 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính.

VietinBank cũng dự kiến trình cổ đông phương án dùng toàn bộ lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ (hơn 16.200 tỷ đồng) để chia cổ tức bằng cổ phiếu, qua đó tăng vốn điều lệ cho ngân hàng. Đề xuất này không gây ngạc nhiên. Tại ĐHĐCĐ thường niên năm 2025, VietinBank đã đề xuất các cơ quan quản lý cho phép được giữ lại toàn bộ lợi nhuận hàng năm của giai đoạn 2024 - 2028 để tăng vốn, nâng cao năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng.

Trong khi đó, BIDV đang gấp rút hoàn thiện kế hoạch phát hành riêng lẻ. Ngoài ra, dự kiến năm 2026 tiếp tục tăng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại của các năm 2023, 2024 và từ các nguồn vốn chủ sở hữu khác, với tỷ lệ chi trả trên 30% bằng cổ phiếu. Ngân hàng cho biết, việc tăng vốn không chỉ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chuẩn an toàn vốn, mà còn để mở rộng dư địa triển khai hoạt động kinh doanh và đáp ứng các mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới.

Ở khối ngân hàng TMCP tư nhân, trong số các ngân hàng lớn, chỉ có Techcombank năm nay không có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu. Các ngân hàng còn lại đều có kế hoạch tăng mạnh vốn điều lệ.

Cụ thể, tại ĐHĐCĐ năm nay, MB dự kiến trình phương án tăng vốn điều lệ từ 80.550 tỷ đồng lên tối đa 102.687 tỷ đồng, tương ứng tăng 27,5%. VPBank trình kế hoạch tăng vốn từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng trong năm nay (tăng 26%)…

Ngoài ra, tại ĐHĐCĐ năm nay, một loạt ngân hàng khác cũng lên kế hoạch tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu để chia cổ tức, hoặc chào bán riêng lẻ, chào bán cho cổ đông hiện hữu, phát hành cổ phiếu ESOP. Các ngân hàng trả cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn, tỷ lệ từ 9,5% đến 30% gồm VIB, LPBank, HDBank, ACB, MSB, SeABank, KienLongBank…

Tăng vốn ngày càng cấp bách

Theo TS. Cấn Văn Lực, câu chuyện tăng vốn của ngành ngân hàng năm 2026 không chỉ là câu chuyện mở rộng quy mô thông thường. Đặt trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển cao (tăng trưởng 2 con số), việc tăng vốn của ngành ngân hàng giai đoạn này còn là yêu cầu bắt buộc, là sự chuẩn bị cho một chu kỳ tăng trưởng mới.

Ngoài áp lực vốn cho tăng trưởng tín dụng, theo các chuyên gia kinh tế, khủng hoảng năng lượng năm 2026 do căng thẳng Trung Đông có thể sẽ kéo dài, tác động đến chi phí sản xuất và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, khiến nợ xấu ngành ngân hàng có thể tăng lên. Chưa kể, mặt bằng lãi suất tăng cao đang tác động xấu đến thị trường bất động sản - ngành được coi là “bình thông nhau” với hệ thống ngân hàng.

Trong bối cảnh này, theo ông Nguyễn Văn Trúc, Trưởng bộ phận Phân tích chứng khoán quốc gia NSI, các ngân hàng buộc phải lên các kế hoạch tăng vốn để củng cố nền tảng tài chính, sẵn sàng ứng phó với rủi ro nếu nợ xấu tăng lên.

TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng cũng nhận định, tăng vốn là xu hướng không thể tránh của các ngân hàng. Vốn điều lệ dày lên không chỉ giúp các ngân hàng có “bộ đệm” tài chính vững chắc để đối phó với biến động của nền kinh tế, đầu tư công nghệ, tăng trưởng tín dụng, mà còn để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của cơ quan quản lý.

Theo Thông tư số 14/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đến năm 2033, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng thương mại sẽ tăng từ 8% hiện nay lên 10,5%. Tăng vốn là yếu tố quyết định khẳng định vị thế, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng giai đoạn tới, không chỉ để đảm bảo hệ số an toàn vốn theo quy định, mà còn là điều kiện tiên quyết để tăng trưởng tín dụng một cách bền vững.

Đối với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, tăng vốn càng là yêu cầu gay gắt. Ông Lê Ngọc Lâm, Tổng giám đốc BIDV cho biết, năm 2025, nhóm Big 4 (Agribank, BIDV, VietinBank, Vietcombank) có tổng dư nợ khoảng 8 triệu tỷ đồng. Năm 2026, nhóm ngân hàng này dự kiến gia tăng giải ngân khoảng 1 triệu tỷ đồng, để phục vụ các nhu cầu vốn của nền kinh tế (tức tổng dư nợ khoảng 9 triệu tỷ đồng).

Tuy vậy, theo ông Lâm, để tiếp tục giữ vững vai trò cung ứng vốn nòng cốt cho thị trường, dẫn dắt và hỗ trợ các động lực tăng trưởng, điều kiện tiên quyết là phải tiếp tục nâng cao năng lực tài chính cho nhóm ngân hàng này. Tổng giám đốc BIDV đề nghị cơ chế tăng vốn linh hoạt, chủ động, trong đó cho phép Big 4 giữ lại toàn bộ lợi nhuận để chi trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm nâng cao năng lực vốn.

Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang thiếu hụt vốn cho tăng trưởng, việc nhà băng chạy đua tăng vốn là tất yếu. Tuy vậy, các chuyên gia cảnh báo, một khi tín dụng tăng nhanh, huy động vốn tăng chậm, hiệu quả sử dụng vốn mới là yếu tố quyết định vị thế của từng nhà băng.

Tin liên quan
Tin khác