- Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp hiến kế, kiến nghị các giải pháp tháo gỡ khó khăn
- Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đề xuất các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng
- Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Nền kinh tế đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng còn nhiều thách thức để tăng trưởng 2 con số
Ông Tsuchibashi Akito, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, Chủ tịch JCCI (Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam): Ba khuyến nghị lớn
Các công ty Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ Nghị quyết số 10-NQ/TW với tầm nhìn thúc đẩy đầu tư chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhân tài và xây dựng các doanh nghiệp Việt Nam mạnh mẽ hơn. Hôm nay, tôi đưa ra ba khuyến nghị.
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Chúng ta phải tăng cường phát triển tài năng công nghiệp cho các ngành có giá trị gia tăng cao. Ngành công nghiệp điện tử và bán dẫn hiện là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Khả năng cạnh tranh trong tương lai của ngành này phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của lực lượng lao động.
Các công ty Nhật Bản đang đầu tư rất lớn vào đào tạo. Tuy nhiên, việc phát triển tài năng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp, các cơ sở giáo dục (trường đại học, trường nghề) và Chính phủ. Chúng tôi hoan nghênh các sáng kiến hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho sự hợp tác giữa các ngành công nghiệp và các tổ chức giáo dục.
Cụ thể như, các trung tâm đào tạo công nghệ điện tử và bán dẫn; phát triển lực lượng lao động lành nghề, các kỹ sư bảo trì và các chuyên gia quản lý chất lượng. Ngoài ra, các chương trình đào tạo kỹ thuật ở nước ngoài cũng là chìa khóa để khuyến khích đầu tư vào phát triển lực lượng lao động.
Trong những năm tới, thách thức lớn nhất có lẽ không phải là số lượng kỹ sư, mà là sự thiếu hụt các chuyên gia kỹ thuật có kinh nghiệm, chuyên gia bảo trì và chuyên viên quản lý chất lượng. Con người là nền tảng của năng lực cạnh tranh công nghiệp. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia vào các hoạt động có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng, thì đây là điều rất quan trọng.
| Ông Tsuchibashi Akito, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI) - Ảnh: VGP |
Thứ hai, thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
Chúng ta phải đẩy mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều công ty Nhật Bản muốn tăng cường mua sắm nội địa tại Việt Nam, tuy nhiên, sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng hiện vẫn còn hạn chế.
Cơ hội đang có trong các lĩnh vực như vật liệu, linh kiện, sản xuất chính xác và các dịch vụ công nghiệp chuyên dụng. Do đó, Việt Nam cần có cả những nhà cung cấp lớn mạnh và một thế hệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), các công ty khởi nghiệp mới tham gia vào chuỗi cung ứng.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty khởi nghiệp năng động đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong đổi mới sáng tạo. Nhiều công ty hàng đầu trong tương lai sẽ xuất thân từ nhóm này. Vì vậy, chúng tôi khuyến khích tiếp tục hỗ trợ phát triển nhà cung cấp, mở rộng cơ hội kết nối kinh doanh, thúc đẩy hợp tác kỹ thuật, các dự án phát triển chung và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các startup.
Việt Nam đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư FDI quy mô lớn. Trong tương lai, chúng ta phải tạo ra thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển và trở thành đối tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Cần tập trung hỗ trợ nâng cấp công nghệ, chứng nhận chất lượng, nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo lực lượng lao động và nâng cao năng suất lao động.
Thứ ba, môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định
Cần có một môi trường kinh doanh minh bạch, có thể dự đoán được và thân thiện với doanh nghiệp. Chúng tôi đánh giá rất cao những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư và cải cách hành chính.
Tuy nhiên, tính minh bạch, khả năng dự báo và việc thực thi chính sách một cách đồng bộ vẫn là những yếu tố then chốt đối với các nhà đầu tư. Khi Nghị quyết 10-NQ/TW được cụ thể hóa thành các luật và quy định, chúng tôi trân trọng đề nghị Chính phủ mở rộng tham vấn với cộng đồng doanh nghiệp.
Cơ chế đối thoại công - tư và cơ chế lấy ý kiến công chúng hiệu quả sẽ giúp đảm bảo rằng các chính sách sát với thực tế, có tính khả thi và được thực hiện thành công.
Việt Nam có tiềm năng rất lớn để trở thành một trong những trung tâm công nghiệp hàng đầu của châu Á về công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để đạt được điều này, chúng tôi tin rằng có ba ưu tiên chính: Phát triển các tài năng công nghiệp; Tăng cường năng lực doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu; Duy trì một môi trường kinh doanh minh bạch, có thể dự đoán và thân thiện.
Các công ty Nhật Bản đã, đang và sẽ tiếp tục cam kết đóng góp cho sự thành công lâu dài của Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản luôn sẵn sàng đồng hành trên con đường phát triển này.
Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa: Mong Chính phủ tiếp tục xem xét nâng ngưỡng tính thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam và hộ kinh doanh rất vui mừng, trân trọng cảm ơn Chính phủ và Thủ tướng ngay từ đầu nhiệm kỳ của Chính phủ mới đã trình Quốc hội thông qua nâng ngưỡng không phải nộp thuế cho hộ kinh doanh từ 100 triệu đồng/năm lên doanh thu 1 tỷ đồng/năm. Chúng tôi rất kỳ vọng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ sẽ tiếp tục xem xét nâng ngưỡng tính thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh để hỗ trợ tạo đà phát triển cho kinh tế tư nhân.
Với mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên, trước hết cộng đồng doanh nghiệp cho rằng các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã khá toàn diện và đầy đủ. Tâm thế của chúng tôi hiện nay chỉ có hành động quyết liệt để quyết tâm đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng.
Trên cơ sở đó, chúng tôi trân trọng đề xuất với Thủ tướng và Chính phủ giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho Hiệp hội DNNVV, cộng đồng DNNVV cũng như hộ kinh doanh, thậm chí bao gồm chỉ tiêu đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.
| Ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, nêu ý kiến tại Hội nghị - Ảnh: VGP |
Với quyết tâm đó, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ một số nội dung.
Trước tiên, nhằm triển khai toàn diện và hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) sắp tới, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ có thể quy định ngay trong Luật về loại hình doanh nghiệp cá thể do một người làm chủ. Các doanh nghiệp cá thể vẫn thực hiện nghĩa vụ thuế như quy định nhưng được hưởng các chính sách hỗ trợ tốt như doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quy định này sẽ tạo điều kiện cho nhiều hộ kinh doanh đăng ký loại hình doanh nghiệp cá thể có thể hưởng những chế độ, chính sách của Nhà nước…
Đồng thời, Nghị quyết 68 khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm độc lập và thúc đẩy chia sẻ, liên thông dữ liệu. Hiệp hội đề xuất Chính phủ cho phép Hiệp hội thí điểm các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cùng với đó, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ phối hợp với Hiệp hội nghiên cứu quy định cơ chế cho phép Hiệp hội thành lập các tổ chức thành viên dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các tỉnh, các xã và phường.
Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp năng lượng Việt Nam (PetroVietnam) Lê Ngọc Sơn: Tạo động lực để doanh nghiệp nhà nước trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng
Ông Sơn chỉ ra các điểm nghẽn và đề xuất 4 kiến nghị chia thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất liên quan trực tiếp đến PetroVietnam và các doanh nghiệp ngành năng lượng, bao gồm hai kiến nghị.
Một là, hoàn thiện khung pháp lý về năng lượng. Kiến nghị Chính phủ sớm trình Quốc hội thông qua Luật Dầu khí sửa đổi, tạo hành lang pháp lý ổn định cho đầu tư và phát triển ngành dầu khí. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện Luật Điện lực theo hướng đồng bộ, khả thi; tổ chức quản lý phát triển điện gió ngoài khơi theo mô hình tương đồng với quản lý hoạt động dầu khí ngoài khơi; xác định rõ cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm. Tháo gỡ vướng mắc về tiêu thụ khí tự nhiên trong nước cho phát điện; hoàn thiện cơ chế giá điện hai thành phần, đảm bảo khả năng thu hồi vốn và thu hút đầu tư từ mọi thành phần kinh tế.
Hai đạo luật này sẽ là tạo nền tảng cho phát triển chuỗi khí điện và năng lượng ngoài khơi, phát huy cao nhất giá trị của tài nguyên quốc gia, đảm bảo an ninh năng lượng và tự chủ năng lượng.
Hai là, cụ thể hóa Nghị quyết 70 về an ninh năng lượng. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ sớm cụ thể hóa Nghị quyết 70 bằng các cơ chế, chính sách cho lĩnh vực năng lượng; tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, vốn, cơ chế giá và thủ tục đối với các dự án năng lượng trọng điểm. Đặc biệt, trong bối cảnh xung đột Trung Đông đang làm gián đoạn khoảng 20% nguồn cung dầu thô và LNG toàn cầu như báo cáo trung tâm đã nêu, kiến nghị sớm hoàn thiện khung pháp lý về dự trữ năng lượng quốc gia, trước hết là dự trữ dầu thô chiến lược. Tôi cũng đề xuất giao cho PetroVietnam nghiên cứu hợp tác đầu tư với các đối tác trong và ngoài nước để vận hành hệ thống kho dự trữ dầu thô quốc gia nhằm gắn với các trung tâm lọc hóa dầu, năng lượng hiện hữu, nâng cao tính tự chủ và khả năng ứng phó của nền kinh tế trước các cú sốc năng lượng.
| Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp năng lượng Việt Nam (PetroVietnam) Lê Ngọc Sơn - Ảnh: VGP |
Nhóm thứ hai về thể chế tạo động lực để doanh nghiệp nhà nước trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng, bao gồm hai kiến nghị.
Thứ nhất, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo sớm ban hành đồng bộ các văn bản quy định pháp luật cụ thể hóa Nghị quyết 79, ưu tiên ba cơ chế:
Một là phân cấp mạnh thẩm quyền quyết định đầu tư và giao quản trị vốn cho Hội đồng thành viên các tập đoàn quy mô lớn gắn với trách nhiệm giải trình.
Hai là, đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo tổng thể danh mục, chấp nhận rủi ro ở từng dự án và làm rõ về cái nhiệm vụ chính trị.
Ba là mở rộng ngành nghề kinh doanh và thu hút nhân tài trong các lĩnh vực chiến lược. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp nhà nước đóng góp thực chất vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kiến nghị thứ hai về hoàn thiện khung pháp lý quản trị, giám sát và đánh giá doanh nghiệp. Từ thực tiễn triển khai Luật 68 và các Nghị định 365, 366, PetroVietnam kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện thể chế theo hướng phân cấp mạnh hơn cho doanh nghiệp; đổi mới cơ chế đánh giá, xếp loại hiệu quả dài hạn và đóng góp cho chiến lược; cho phép bổ sung vốn điều lệ, giữ lại nguồn lực để tái đầu tư; sớm ban hành cơ chế đặc thù đối với các dự án năng lượng mới, công nghệ mới và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Đồng thời, PetroVietnam xin đề xuất một cơ chế để tạo sức lan tỏa cho nền toàn nền kinh tế, phát huy vai trò của các tập đoàn nhà nước đầu tàu. Đó là cho phép chủ động thiết kế chuỗi liên kết với hai khu vực doanh nghiệp gồm doanh nghiệp tư nhân trong nước, doanh nghiệp nước ngoài tại các dự án năng lượng quy mô lớn như là chuỗi dự án khí điện Lô B, hạ tầng về điện khí LNG và điện gió ngoài khơi. Tỉ lệ nội địa hóa cần được giao thành chỉ tiêu. Mỗi đồng vốn nhà nước sẽ kéo theo nhiều đồng vốn và năng lực tự chủ của khu vực tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Với PetroVietnam, song song với sự tháo gỡ của Chính phủ, PetroVietnam cam kết ba việc:
- Hoàn thành vượt mức toàn bộ chỉ tiêu năm 2026, giữ tốc độ tăng trưởng doanh thu hai con số và nộp ngân sách nhà nước đảm bảo cả năm vượt kế hoạch quản trị.
- Đảm bảo giải ngân đúng tiến độ các dự án trọng điểm, nâng cấp mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, chuỗi dự án Lô B - Ô Môn, hệ thống kho cảng LNG và chuẩn bị sẵn sàng cho dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.
- Tự đổi mới quản trị theo chuẩn mực quốc tế, ứng dụng trí tuệ nhân tạo toàn diện trong toàn hệ thống và siết chặt kỷ luật về đầu tư và chi phí.
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Vietcombank: Mong muốn thị trường vốn phát triển mạnh mẽ
Dưới góc độ của một ngân hàng thương mại, chúng tôi xin báo cáo có 5 khó khăn vướng mắc:
Thứ nhất là khó khăn vướng mắc liên quan đến việc bố trí đủ nguồn vốn để cung ứng tín dụng ra thị trường.
Thứ hai là liên quan đến bất cân đối về nguồn vốn.
Thứ ba là liên quan đến chi phí vốn tăng trong thời gian tới.
Thứ tư liên quan đến nguồn cung ngoại tệ, tỷ giá.
Thứ năm là các nội dung liên quan đến chính sách tài sản bảo đảm, cũng như là việc vay vốn của các địa phương mà có quy hoạch làm ảnh hưởng đến tài sản bảo đảm của các ngân hàng.
| Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) - Ảnh: VGP |
Dưới góc độ nền kinh tế, để đạt được tăng trưởng GDP 10% thì tỉ lệ đầu tư cần đạt là 40% GDP. Tuy nhiên, tỉ lệ tiết kiệm bình quân trong nước chúng ta chỉ đạt con số 36,5% (theo tính toán độc lập của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank). Nếu loại trừ phần kinh tế phi chính thức thì việc tiết kiệm trong nước còn thiếu hơn rất nhiều.
Vietcombank tuân thủ tuyệt đối theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về mặt bằng lãi suất huy động vốn. Do vậy, nguồn vốn Vietcombank đang huy động bị thiếu so với nhu cầu để tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, LDR (tỉ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động) Ngân hàng Nhà nước cho phép là 80%, Vietcombank hiện nay chỉ ở khoảng dưới 70%, rất an toàn, kiểm soát LDR rất tốt. Vietcombank cam kết trong mọi tình huống đều đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng và cho thị trường. Thời gian vừa qua, Vietcombank vẫn bảo đảm cung ứng đủ tiền ra thị trường để hỗ trợ cho thanh khoản.
Từ phân tích nêu trên, thấy rằng tích lũy trong nước sẽ không đủ. Vấn đề cốt lõi là bây giờ các ngân hàng sẽ không dư dả vốn để cung ứng cho tín dụng, đặc biệt là nhu cầu cho rất nhiều dự án lớn trong thời gian tới. Do vậy, giải pháp tất yếu là phải huy động nguồn vốn từ bên ngoài.
Về giải pháp đối với nguồn vốn, đề xuất cho phép trong thời gian tới Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếu quốc tế. Với uy tín của Việt Nam hiện nay, trái phiếu quốc tế sẽ được lãi suất tốt, thay vì để các doanh nghiệp tự đi huy động như hiện nay.
"Chúng tôi rất mong trong thời gian tới thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn. Hiện quy mô trái phiếu doanh nghiệp chỉ khoảng 10% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia hay Trung Quốc.
Để giải quyết vấn đề này, ngành ngân hàng cũng có thể tham gia hỗ trợ thông qua chính sách liên quan đến nhận tài sản bảo đảm của các đơn vị phát hành. Rất nhiều trái phiếu doanh nghiệp phát hành hiện nay khiến nhà đầu tư chưa yên tâm về tài sản bảo đảm (ví dụ bất động sản hay tài sản hình thành từ vốn vay). Chỉ có các tổ chức tín dụng mới có thể nhận được các tài sản này. Nếu đồng bộ cả ngành ngân hàng và tài chính thì sẽ tạo động lực cho trái phiếu doanh nghiệp phát triển" ông Tùng kiến nghị.
Bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch thường trực Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank): Khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân
Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp thành viên Hội Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam và Tập đoàn BRG, tôi xin đề xuất các nhóm giải pháp nhằm khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước như sau:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tài khóa, tiền tệ và phát triển tín dụng xanh.
Thời gian qua, Chính phủ đã điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng. Tín dụng xanh cần trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững. Mặc dù dư nợ tín dụng xanh đã vượt 700.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm, nhưng mới chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ. Chúng tôi xin đề xuất Chính phủ:
Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh đầu tư dự án xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời quy định rõ đối tượng, tiêu chí, nguồn kinh phí, thời hạn hỗ trợ và cơ chế giám sát để bảo đảm minh bạch, hiệu quả, hạn chế trục lợi chính sách.
Tổ chức triển khai thống nhất Danh mục phân loại tín dụng xanh quốc gia; ban hành hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, quy trình xác nhận và cơ chế cập nhật danh mục. Đồng thời, cần nghiên cứu các công cụ hỗ trợ phù hợp cho tổ chức tín dụng, bao gồm cơ chế tái cấp vốn ưu đãi, chia sẻ rủi ro và huy động các nguồn vốn dài hạn trong nước và quốc tế.
Tăng cường phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và tổ chức tín dụng trong tuyên truyền, đào tạo và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng phương án chuyển đổi xanh, ưu tiên doanh nghiệp vừa và nhỏ.
| Bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch thường trực Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) - Ảnh: VGP. |
Thứ hai, phát triển mạnh thị trường bán lẻ trong nước thông qua nâng cao năng lực kết nối của doanh nghiệp sản xuất với chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối hiện đại.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục biến động do thuế quan và đứt gãy chuỗi cung ứng, phát huy sức cầu nội địa là giải pháp quan trọng để nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ vẫn gặp khó trong việc đáp ứng tiêu chuẩn của hệ thống phân phối hiện đại, chi phí logistics cao và thiếu dữ liệu thị trường, dẫn đến mất cân đối cung – cầu.
Thực tiễn, nhu cầu của người tiêu dùng đối với hàng Việt chất lượng cao là rất lớn. Để khai thác hiệu quả dư địa này, cần một cơ chế kết nối đồng bộ giữa sản xuất và phân phối với sự hỗ trợ của Chính phủ. Vì vậy, tôi xin đề xuất Chính phủ:
Xây dựng Chương trình quốc gia phát triển chuỗi cung ứng hàng Việt, liên kết xuyên suốt giữa sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu dùng.
Ban hành cơ chế khuyến khích và đặt hàng các doanh nghiệp lớn tham gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã thông qua tư vấn tiêu chuẩn chất lượng, chuyển giao công nghệ, chia sẻ hạ tầng logistics, kết nối tiêu thụ và phát triển chuỗi cung ứng. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa và mở rộng sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, phát triển du lịch thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Du lịch là ngành kinh tế có sức lan tỏa lớn, tạo giá trị cho thương mại, bán lẻ, vận tải, lưu trú, văn hóa và nhiều ngành dịch vụ khác. Đây là dư địa rất lớn để thúc đẩy tăng trưởng. Mục tiêu của chúng ta là nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi lượt khách, cần phát triển mạnh các hệ sinh thái mua sắm, giải trí, dịch vụ lưu trú chất lượng cao và kinh tế đêm. Tuy nhiên, việc đầu tư và vận hành các tổ hợp thương mại, du lịch quy mô lớn vẫn còn nhiều vướng mắc về cơ chế và chính sách.
Vì vậy, tôi đề xuất Chính phủ nghiên cứu, thí điểm các cơ chế đặc thù đối với các tổ hợp thương mại, du lịch, vui chơi giải trí quy mô lớn, bao gồm:
Linh hoạt và đồng bộ hóa thể chế kinh tế đêm cho các tổ hợp vui chơi giải trí lớn. Địa phương tiên phong như Hà Nội đã ban hành ban hành Nghị quyết kinh tế đêm (tháng 6/2026) để phát triển thực chất kinh tế đêm, mở rộng không gian tiêu dùng và gia tăng chi tiêu của du khách.
Đơn giản hóa, đẩy nhanh quy trình hoàn thuế VAT tại chỗ cho khách quốc tế tại các trung tâm thương mại lớn, tạo thuận lợi và kích cầu mua sắm.
Nghiên cứu áp dụng cơ chế ưu đãi về thuế, phí phù hợp, xem xét điều chỉnh các chính sách thuế (như thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số loại hình dịch vụ giải trí, nghỉ dưỡng và thể thao cao cấp) nhằm nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong khu vực.
Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số là thách thức lớn, đồng thời là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Cộng đồng doanh nghiệp tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ và quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước.
Về phía doanh nghiệp tư nhân, chúng tôi cam kết đầu tư mạnh mẽ hơn, đổi mới sáng tạo quyết liệt hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững đồng hành cùng Chính phủ xây dựng một khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.