Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển đang đặt Việt Nam vào một quỹ đạo phát triển mới, với những đích đến cao hơn về tăng trưởng, năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Nhưng nhiều lợi thế đang tới hạn khiến cuộc đua biến thời cơ hôm nay thành năng lực của ngày mai trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
| Lợi thế dân số vàng chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được chuyển hóa thành năng suất, kỹ năng và năng lực công nghệ. Ảnh: Đức Thanh |
Bài 1: Sự ủy thác của lịch sử
Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có một lực lượng lao động vừa đông, vừa trẻ, vừa năng động và đầy khát vọng. Nhưng đây cũng là những năm cuối của cơ cấu dân số vàng.
Trăn trở thế hệ
“Trong khoảng 15 năm nữa thôi, lịch sử sẽ đặt cho thế hệ chúng ta một câu hỏi rất giản dị: Các anh, các chị đã làm gì với khoảng thời gian ấy?”, ông Mai Hữu Tín, Chủ tịch Tập đoàn U&I dự định đặt vấn đề này tại Đại hội đầu tiên của Liên đoàn Doanh nghiệp TP.HCM sẽ diễn ra vào ngày 27/8.
Một doanh nhân chuẩn bị nhận trọng trách ở một tổ chức doanh nghiệp có quy mô lớn nhất nước về số lượng và tầm ảnh hưởng, chọn bắt đầu nhiệm kỳ bằng một câu hỏi về lịch sử, thay vì những bài toán doanh thu, lợi nhuận hay những khó khăn, thách thức trước các cơ hội phát triển như thường thấy. Nhưng ông đang rất sốt ruột khi nhìn thấy một khoảng thời gian đang khép dần: những năm cuối của cơ cấu dân số vàng.
“Lịch sử trao cho những thế hệ khác nhau những cơ hội khác nhau. Có những thế hệ được trao sứ mệnh giành độc lập. Có những thế hệ được trao sứ mệnh tái thiết đất nước. Còn thế hệ chúng ta được trao một khoảng thời gian vô cùng đặc biệt. Đó là những năm cuối cùng của cơ cấu dân số vàng. Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có một lực lượng lao động vừa đông, vừa trẻ, vừa năng động và cũng đầy khát vọng đến như vậy”, ông Tín lý giải cách đặt vấn đề của mình.
Đây không phải là vấn đề mới, nhưng được đặt ra rất thực tế trong góc nhìn của giới kinh doanh.
Nhật Bản đã trải qua một giai đoạn công nghiệp hóa nhanh, với GDP tăng gần 9%/năm trong giai đoạn 1950-1973. Từ một nền kinh tế nghèo sau chiến tranh, Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 10%/năm trong giai đoạn 1962-1973, với công nghiệp hóa hướng mạnh ra xuất khẩu và đầu tư vào giáo dục, nguồn nhân lực. Trung Quốc, từ cải cách và mở cửa năm 1978, duy trì tăng trưởng trên 9%/năm trong nhiều thập kỷ, đưa gần 800 triệu người thoát nghèo và tạo nên một trong những cuộc chuyển đổi kinh tế lớn nhất lịch sử hiện đại.
- Ông Mai Hữu Tín, Chủ tịch Tập đoàn U&I
Họ biến lợi thế nhân khẩu học thành nguồn nhân lực, năng lực công nghiệp, năng suất và những doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế. Nhiều thương hiệu, doanh nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đã vượt khỏi biên giới. Fortune 2026 tiếp tục ghi nhận Toyota ở vị trí 20 của Global 500; Samsung và Hyundai nằm trong nhóm doanh nghiệp có doanh thu lớn nhất thế giới; Trung Quốc có nhiều doanh nghiệp như Alibaba, BYD, Tencent, Huawei trong các bảng xếp hạng doanh nghiệp lớn toàn cầu.
Nhưng Nhật Bản đã đi qua, Hàn Quốc cũng đã đi qua, còn Trung Quốc đang đi qua “cửa sổ” cơ hội dân số vàng mà không có cách nào quay ngược đồng hồ. Trong khi đó, ông Tín nói, thế hệ doanh nhân của Việt Nam hôm nay có lẽ là thế hệ cuối cùng được xây dựng doanh nghiệp trong điều kiện thuận lợi nhất về nguồn nhân lực của đất nước.
“Nếu nửa triệu doanh nghiệp TP.HCM cùng nâng năng suất thêm một chút, cùng quản trị tốt hơn một chút, cùng đầu tư cho công nghệ nhiều hơn một chút, cùng đào tạo con người tốt hơn một chút, cùng đổi mới sáng tạo nhiều hơn một chút, thì điều thay đổi sẽ không chỉ là từng doanh nghiệp. Điều thay đổi sẽ là năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế Việt Nam”, ông Mai Hữu Tín muốn đặt đầu bài với các doanh nghiệp tại Đại hội thành lập Liên đoàn Doanh nghiệp TP.HCM.
Tất nhiên, bài toán trên không chỉ được gửi tới doanh nghiệp TP.HCM.
Chân dung Việt Nam 2030-2045
Để hiểu sâu câu hỏi của ông Tín, có lẽ phải nhìn từ tương lai mà Việt Nam đang muốn đạt tới.
Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đã chọn bước vào quỹ đạo tăng trưởng hoàn toàn mới. Trong đó, GDP tăng bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, khoảng 8-8,5%/năm trong giai đoạn 2031-2035 và khoảng 7,5%/năm trong giai đoạn 2036-2045. GDP bình quân đầu người được đặt mục tiêu khoảng 8.500 USD năm 2030, 13.500 USD năm 2035 và khoảng 28.000 USD năm 2045.
Trên quỹ đạo đó, Việt Nam không chỉ tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế công nghệ, mà phải có năng lực công nghệ của chính mình, có vị trí, vai trò trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) phải đóng góp trên 55% vào tăng trưởng GDP. Năng suất lao động phải tăng bình quân 8,5%/năm trong giai đoạn 2026-2030, trên 7,5%/năm trong giai đoạn 2031-2035 và 6,5-7%/năm trong giai đoạn 2036-2045...
Đến năm 2045, kinh tế số được đặt mục tiêu chiếm ít nhất 40% GDP, Việt Nam sẽ có mặt trong nhóm 30 quốc gia dẫn đầu về đổi mới sáng tạo... Những mục tiêu với các con số cụ thể của nền kinh tế cũng phác họa chân dung thế hệ doanh nghiệp Việt rất khác.
TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh đặc biệt quan tâm đến thế hệ doanh nghiệp mà ông gọi là sẽ đi cùng, là động lực chính đưa nền kinh tế Việt Nam đến mục tiêu đó. Đó không còn chủ yếu là doanh nghiệp cạnh tranh bằng lao động rẻ, vốn, mặt bằng, hay khả năng làm nhanh những đơn hàng sẵn có.
Đó phải là doanh nghiệp có năng suất cao hơn, biết dùng công nghệ để tạo lợi thế, có năng lực nghiên cứu và phát triển, có thương hiệu, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, và ở tầng cao hơn, có thể đem năng lực của mình ra thị trường thế giới. “Những doanh nghiệp của Việt Nam năm 2045 sẽ vận hành, cạnh tranh trong một nền kinh tế mà xanh hóa, số hóa và những tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện tiên quyết để bước vào thị trường”, TS. Võ Trí Thành phác họa.
Câu hỏi từ phía dưới “đường cong nụ cười”
Có một cách khác để nhìn về tương lai ấy, đó là từ vị trí hiện tại của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó chủ tịch Hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam trầm ngâm rất lâu khi nhận được câu hỏi: Doanh nghiệp điện tử Việt Nam sẽ góp mặt vào mô hình phát triển mới của Việt Nam như thế nào?
Cách đây vài năm, doanh nghiệp điện tử Việt Nam được nhìn nhận là ở đáy “đường cong nụ cười”, chủ yếu làm sản xuất, lắp ráp, trong khi các khâu có giá trị cao hơn vẫn nằm phần lớn trong tay doanh nghiệp nước ngoài. Nhưng hôm nay, vị thế đã khác. Bà Hương khẳng định, nhiều doanh nghiệp đã bước lên một đoạn của con dốc: bắt đầu làm tốt hơn về quản trị sản xuất, chất lượng, công nghệ, cung ứng; một số đã tiến vào những công đoạn phức tạp hơn.
Nhưng thoát đáy chưa đồng nghĩa với việc đã lên đỉnh. Các nghiên cứu đều cho thấy, doanh nghiệp điện tử Việt vẫn gặp hạn chế về quy mô, công nghệ, nhân lực và quản trị sản xuất; phần lớn doanh nghiệp nội tham gia chuỗi cung ứng ở những vị trí thấp, trong khi số doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp 1 vẫn rất ít.
“Đây chính là ‘khoảng ngấn nước’ mà doanh nghiệp Việt cần vượt qua để không chỉ bứt xa khỏi vùng đáy, có mặt trong chuỗi giá trị, mà sẽ giữ lại phần giá trị lớn hơn”, bà Hương phân tích.
Từ dưới nhìn lên, con dốc lên đỉnh “đường cong nụ cười” đầy thách thức…
(Còn tiếp)