Đầu tư tài chính
Gỡ nút thắt để đưa giá trị carbon vào quyết định tín dụng
N.Minh - 14/10/2026 11:53
Trọng tâm không phải là “ngân hàng có mua bán tín chỉ không", mà là “ngân hàng tài trợ cho quá trình tạo ra kết quả giảm phát thải như thế nào, và khi nào giá trị carbon đủ chắc chắn để đi vào quyết định tín dụng".

Nhằm phân tích mối liên hệ giữa tín dụng xanh và thị trường carbon từ góc nhìn ngân hàng thương mại, TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG, Agribank đã có bài phát biểu tại Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường Carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” do Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 14/10. 

Thị trường carbon mở ra cơ hội mới cho tín dụng xanh

Trong bối cảnh quốc tế, định giá carbon đã trở thành một công cụ kinh tế ngày càng quan trọng. Báo cáo State and Trends of Carbon Pricing 2026 của World Bank ghi nhận 87 chính sách định giá carbon trực tiếp trên thế giới, bao phủ hơn 29% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu; các công cụ này tạo hơn 107 tỷ USD nguồn thu ngân sách trong năm 2025 và mức giá carbon trực tiếp bình quân gần 21 USD/tCO₂e. Những con số đó không hàm ý một mức giá chung cho mọi tín chỉ, nhưng cho thấy chi phí phát thải đang ngày càng được nội hóa vào quyết định đầu tư và kinh doanh.

TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG, Agribank. Ảnh: Chí Cường

Bà Hà cho biết, đối với Agribank, vấn đề này gắn trực tiếp với khách hàng và địa bàn hoạt động. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vừa chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, vừa có dư địa giảm phát thải trong lúa gạo, chăn nuôi, lâm nghiệp, năng lượng sinh khối, xử lý chất thải và kinh tế tuần hoàn. Vì vậy, câu hỏi trọng tâm không phải là “ngân hàng có mua bán tín chỉ hay không”, mà là “ngân hàng có thể tài trợ cho quá trình tạo ra kết quả giảm phát thải như thế nào, và khi nào giá trị carbon đủ chắc chắn để đi vào quyết định tín dụng”.

Nền tảng pháp lý của thị trường carbon Việt Nam được hình thành từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và được cụ thể hóa qua nhiều văn bản. Từ năm 2022 đến nay, danh sách doanh nghiệp buộc phải kiểm kê khí nhà kính đã tăng từ 1.912 lên 2.441, tăng gần 28%. Năm 2022, Quyết định 01/2022/QĐ-TTg có 1.912 cơ sở, năm 2024 Quyết định 13/2024/QĐ-TTg, là 2.166 cơ sở tăng 254 cơ sở, chiếm khoảng 30% tổng phát thải khí nhà kính quốc gia; năm 2026, Quyết định 42/2026/QĐ-TTg là 2.441 cơ sở tăng thêm 275 cơ sở. 

Về tín dụng xanh, Quyết định 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và Danh mục phân loại xanh tạo cơ sở nhận diện dự án xanh và Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg về Hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn, góp phần tạo thêm dự án xanh mới, khơi thông nguồn vốn, mở rộng thêm tiêu chuẩn về kinh tế tuần hoàn và bộ tiêu chí ESG, nhưng cần nhấn mạnh rằng một dự án thuộc danh mục phân loại xanh không đồng nghĩa dự án đó có tín chỉ carbon, ngược lại, dự án có tín chỉ cũng không mặc nhiên đáp ứng điều kiện cấp tín dụng. Quyết định 42/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ 25/9/2026, cập nhật danh mục lĩnh vực, cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính, tiếp tục mở rộng nền dữ liệu phục vụ quản lý phát thải. 

Theo dữ liệu HNX, mã hạn ngạch VN2025 cho giai đoạn tuân thủ 2025-2026 có tổng lượng 511.473.846 tCO₂e, phân bổ cho 110 cơ sở; ngày giao dịch đầu tiên là 29/6/2026 và ngày giao dịch cuối cùng là 24/12/2027. Đây là bước chuyển quan trọng từ khung chính sách sang hạ tầng giao dịch thực tế.

Tuy nhiên, dữ liệu công khai tại HNX cho thấy trong các ngày giao dịch đây, khối lượng và giá trị giao dịch đều bằng 0. Điều này không có nghĩa thị trường không có tiềm năng, nhưng cho thấy ngân hàng chưa nên mặc định rằng đã tồn tại một mức giá tham chiếu ổn định hoặc thanh khoản sâu để sử dụng trực tiếp trong thẩm định phương án vay.

Việt Nam đồng thời đã có kinh nghiệm thương mại hóa kết quả giảm phát thải trên thị trường quốc tế. Tháng 3/2024, Việt Nam nhận 51,5 triệu USD từ World Bank cho 10,3 triệu tấn kết quả giảm phát thải được xác minh trong Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ. Bài học quan trọng không nằm ở việc lấy 51,5 triệu USD chia cho 10,3 triệu tấn để hình thành “giá chuẩn”, mà ở chỗ kết quả môi trường chỉ trở thành dòng tiền khi có phương pháp, dữ liệu, thẩm tra, hợp đồng và cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng.

Kiến nghị khơi thông dòng vốn xanh gắn với thị trường carbon

Đại diện Agribank cho biết, đến giữa năm 2026, tổng tài sản của Agribank trên 2,7 triệu tỷ đồng, nguồn vốn huy động trên 2,5 triệu tỷ đồng và dư nợ cho vay nền kinh tế vượt 2 triệu tỷ đồng. Đến tháng 8/2026, dư nợ dành cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đạt hơn 1,34 triệu tỷ đồng, chiếm 64,7% tổng dư nợ. Đến 31/7/2026, toàn hệ thống có trên 58.000 tổ vay vốn với hơn 910.000 thành viên và tổng dư nợ trên 216.000 tỷ đồng. Đây là lợi thế đặc thù để tập hợp dữ liệu, tổ chức tài trợ theo chuỗi và đưa các mô hình giảm phát thải đến khu vực sản xuất phân tán.

Đại diện Agribank đưa ra 6 kiến nghị để khơi thông dòng vốn xanh gắn với thị trường carbon. Ảnh: Chí Cường

Về tín dụng xanh, đến cuối tháng 3/2026, tổng dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt gần 30.000 tỷ đồng. Năm 2026, Agribank tiếp tục triển khai chương trình tín dụng xanh 3.000 tỷ đồng cho khách hàng cá nhân và chương trình tài trợ nông nghiệp sạch, công nghệ cao 50.000 tỷ đồng.

Trong Đề án phát triển bền vững 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Agribank triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ với quy mô tối thiểu 30.000 tỷ đồng. Nền tảng này đặc biệt phù hợp để thử nghiệm cách quản lý dữ liệu, dòng tiền và lợi ích carbon trong một chuỗi sản xuất có tổ chức.

Để thúc đẩy thị trường carbon, lộ trình đề xuất nhấn mạnh nguyên tắc đi từ nền tảng đến chuyên biệt: giai đoạn 2026-2028 tập trung dữ liệu, năng lực, đối tác và thí điểm; giai đoạn 2029-2032 mở rộng hoạt động gắn với thị trường trong nước khi cơ chế vận hành ổn định hơn; từ 2033 trở đi mới nghiên cứu sâu các sản phẩm dựa trên doanh thu hoặc khoản phải thu carbon. Mốc thời gian là khung nghiên cứu nội bộ, cần được cập nhật theo tốc độ hoàn thiện pháp lý và thanh khoản thực tế của thị trường.

Cụ thể hơn, đại diện Agribank đưa ra 6 kiến nghị để khơi thông dòng vốn xanh gắn với thị trường carbon. 

Thứ nhất là Làm rõ quyền sở hữu, quyền định đoạt và quyền hưởng lợi đối với kết quả giảm phát thải/tín chỉ; đồng thời hoàn thiện cơ chế xử lý khoản phải thu, giao dịch bảo đảm, kế toán, thuế và ngoại hối đối với các giao dịch có yếu tố carbon.

Thứ hai, Coi dữ liệu và MRV là hạ tầng thiết yếu. Cần có cơ chế giảm chi phí MRV cho hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vùng nguyên liệu; khuyến khích phương pháp theo nhóm, nền tảng dữ liệu dùng chung và chuẩn hóa thông tin từ đầu dự án.

Thứ ba, Phát triển cầu thị trường song song với nguồn cung. Việc hỗ trợ dự án nên gắn từ sớm với yêu cầu của bên mua, tiêu chuẩn tín chỉ, thời kỳ phát sinh, chứng từ, tuyên bố sử dụng và điều kiện thanh toán.

Thứ tư, Khuyến khích tài chính hỗn hợp và chia sẻ rủi ro cho giai đoạn chuẩn bị, thí điểm, MRV và đầu tư công nghệ. Hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh hoặc vốn ưu đãi nên gắn với loại rủi ro cụ thể, không thay thế nguyên tắc thẩm định tín dụng.

Thứ năm, Bảo đảm quyền lợi người sản xuất và cộng đồng: hợp đồng cần dễ hiểu, nêu rõ chi phí, quyền dữ liệu, quyền hưởng doanh thu, thời hạn và cơ chế khiếu nại; tránh cấu trúc trong đó bên chịu chi phí chuyển đổi lại không được hưởng lợi tương xứng.

Thứ sáu, Gắn vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương: địa phương là nơi trực tiếp ghi nhận tác động tiêu cực hoặc tích cực từ việc giảm phát thải do đó cần chỉ đạo cơ quan chức năng đánh giá MRV khách quan, công bằng, minh bạch; có chính sách sử dụng nguồn vốn ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trên địa bàn đáp ứng yêu cầu xanh, kinh tế tuần hoàn, chuẩn ESG về lãi suất, giảm thuế, tư vấn và đào tạo, mở rộng thị trường.

Thị trường carbon làm thay đổi cách nhìn về giá trị của hoạt động giảm phát thải, nhưng giá trị đó chỉ hỗ trợ quyết định tài chính khi ba mắt xích được nối liền: bằng chứng môi trường đủ tin cậy, quyền kinh tế đủ rõ và dòng tiền đủ có khả năng thu hồi, mang lại hiệu quả tích cực. Đối với ngân hàng thương mại, đây là ranh giới giữa “tiềm năng carbon” và “nguồn thu có thể thẩm định”.

Với Agribank, bà Hà khẳng định, lợi thế lớn nhất không nằm ở việc trở thành nhà giao dịch tín chỉ, mà ở khả năng cung ứng vốn, dịch vụ ngân hàng và năng lực kết nối đến nơi tạo ra kết quả giảm phát thải: cánh đồng, trang trại, rừng, nhà máy và chuỗi cung ứng. Hướng đi phù hợp là tài trợ trên cơ sở hiểu rõ dự án, quản trị rủi ro theo từng giai đoạn, bảo đảm quyền lợi của người sản xuất và từng bước đưa giá trị carbon đã được kiểm chứng vào quyết định tín dụng. Khi người sản xuất được hưởng lợi, doanh nghiệp có phương án khả thi và ngân hàng kiểm soát được rủi ro, dòng vốn xanh mới có điều kiện mở rộng bền vững. 

Tin liên quan
Tin khác