Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội vừa ban hành Công văn số 5860/SGDĐT-GDMN ngày 19/10/2026 về báo cáo thực trạng và xây dựng kế hoạch, lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong các cơ sở giáo dục mầm non.
Theo đó, Sở đề nghị UBND các xã, phường chỉ đạo cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn rà soát, đánh giá tình hình tổ chức cho trẻ mẫu giáo làm quen với tiếng Anh, tính đến tháng 9/2026.
| Hà Nội rà soát đội ngũ, cơ sở vật chất và nhu cầu đầu tư để xây dựng lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong các cơ sở giáo dục mầm non. |
Nội dung rà soát tập trung vào mạng lưới cơ sở giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và quy mô trẻ mẫu giáo.
Về mạng lưới, các địa phương thống kê tổng số cơ sở giáo dục mầm non theo loại hình công lập, tư thục, dân lập, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập; xác định số cơ sở đã và đang tổ chức cho trẻ làm quen với tiếng Anh.
Đối với đội ngũ, báo cáo phải thống kê tổng số cán bộ quản lý, giáo viên mầm non; số cán bộ quản lý, giáo viên có trình độ tiếng Anh từ bậc 4, tương ứng B2, trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam hoặc tương đương theo quy định tại Thông tư số 50/2020/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Về quy mô trẻ, các cơ sở thống kê số trẻ mẫu giáo huy động ra lớp theo từng nhóm tuổi từ 3 đến 4, từ 4 đến 5 và từ 5 đến 6 tuổi; số trẻ đã và đang tham gia hoạt động làm quen với tiếng Anh.
Trên cơ sở điều kiện cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ và thực tế địa bàn, UBND các xã, phường xây dựng dự thảo lộ trình, kế hoạch triển khai đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai đối với cấp học mầm non tại địa phương.
Hệ thống biểu mẫu kèm công văn gồm bốn phụ lục về thực trạng triển khai; dự kiến mục tiêu, lộ trình; rà soát điều kiện, xác định nhu cầu đầu tư; dự kiến nhu cầu kinh phí thực hiện.
Trong biểu mẫu về mục tiêu, lộ trình, các địa phương dự kiến số lượng, tỷ lệ cơ sở bảo đảm điều kiện cho trẻ làm quen với tiếng Anh và cơ sở triển khai đề án đạt mức độ 1, mức độ 2, mức độ 3. Các mốc thống kê gồm hiện trạng tháng 9/2026 và dự kiến đến các năm 2030, 2035, 2040, 2045.
Việc rà soát điều kiện và nhu cầu đầu tư được thực hiện theo bốn nhóm: đội ngũ; học liệu, tài nguyên số; cơ sở vật chất, thiết bị; nền tảng, công nghệ.
Cụ thể, các địa phương xác định số giáo viên đủ điều kiện tổ chức hoạt động bằng tiếng Anh hoặc song ngữ, đạt trình độ B2 trở lên; nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng năng lực tiếng Anh cho giáo viên và cán bộ quản lý.
Đối với học liệu, nội dung rà soát gồm học liệu tiếng Anh, song ngữ, tài nguyên số, tài liệu tham khảo và tài nguyên phục vụ xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh.
Về cơ sở vật chất, các đơn vị xác định nhu cầu bổ sung, cải tạo phòng hoặc khu vực tổ chức hoạt động; thiết bị phục vụ hoạt động tiếng Anh, song ngữ; thiết bị nghe, nhìn, tương tác, thiết bị số và hạ tầng mạng, đường truyền.
Nhóm nền tảng, công nghệ bao gồm nền tảng, công cụ, hệ thống số hỗ trợ hoạt động giáo dục; công cụ phối hợp với cha mẹ trẻ; ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo phù hợp. Với từng nội dung, biểu mẫu yêu cầu làm rõ hiện trạng, yêu cầu theo lộ trình, nhu cầu bổ sung, giai đoạn thực hiện và kinh phí dự kiến.
Nhu cầu kinh phí được tổng hợp cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ; học liệu, tài liệu, tài nguyên số; đầu tư, cải tạo cơ sở vật chất; mua sắm thiết bị; hạ tầng, nền tảng, công nghệ số và các nhiệm vụ khác phục vụ đề án.
Biểu mẫu phân chia nhu cầu kinh phí theo các giai đoạn 2026-2030, 2031-2035, 2036-2040 và 2041-2045, đồng thời xác định nguồn ngân sách nhà nước, xã hội hóa và nguồn hợp pháp khác.
Sở Giáo dục và Đào tạo đề nghị UBND các xã, phường chỉ đạo cơ sở giáo dục mầm non cung cấp số liệu, tổng hợp báo cáo gửi về Sở trước 17 giờ ngày 28/10/2026. Đây là cơ sở để Sở tổng hợp, xây dựng báo cáo gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo đúng thời hạn.
Công văn được ban hành nhằm thực hiện yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về triển khai kế hoạch đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong các cơ sở giáo dục mầm non; đồng thời căn cứ Kế hoạch số 259/KH-UBND ngày 6/7/2026 của UBND TP. Hà Nội triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học” trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.