Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Kế hoạch số 426/KH-UBND về triển khai thí điểm Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thực phẩm TP. Hà Nội.
Theo Kế hoạch, việc triển khai thí điểm nhằm xây dựng và triển khai thí điểm Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thực phẩm dùng chung của Thành phố phục vụ quản lý an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc đối với thịt gia súc, gia cầm (tập trung vào thịt lợn) trên địa bàn TP. Hà Nội; bảo đảm theo dõi xuyên suốt, kiểm soát từ khâu giết mổ, phân phối đến tiêu thụ một cách minh bạch, chính xác.
| Hà Nội thí điểm truy xuất nguồn gốc thực phẩm, tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm tại các điểm bán và bếp ăn tập thể. Ảnh minh họa. |
Hình thành dữ liệu truy xuất thống nhất, liên thông, có khả năng kiểm chứng; hỗ trợ cơ quan quản lý giám sát, phát hiện rủi ro, truy xuất ngược, khoanh vùng và thu hồi sản phẩm khi phát sinh sự cố; bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng thông qua việc cung cấp công cụ tra cứu nguồn gốc thực phẩm nhanh chóng, chính xác, từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác giám sát an toàn thực phẩm hiện nay.
Tập trung quản lý và truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm thịt gia súc, gia cầm (tập trung vào thịt lợn); làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và hạ tầng công nghệ trước khi mở rộng ra toàn bộ các nhóm thực phẩm khác.
Trong giai đoạn thí điểm, chỉ ghi nhận thông tin định danh cơ sở chăn nuôi và mã lô xuất bán/đầu vào khâu giết mổ (không bắt buộc nhật ký chăn nuôi chi tiết hằng ngày); nguồn cung ngoài Thành phố ghi nhận qua hồ sơ hợp lệ, không chờ liên thông dữ liệu liên tỉnh; thực hiện đồng bộ dữ liệu phù hợp phạm vi thí điểm, không yêu cầu đồng bộ dữ liệu lịch sử.
Phạm vi bao gồm thịt gia súc, gia cầm (tập trung vào thịt lợn) của các chuỗi được lựa chọn; ghi nhận nguồn cung đầu vào, hồ sơ liên quan, lô giết mổ, vận chuyển, sơ chế, phân phối và tiếp nhận tại điểm bán, bếp ăn.
Quy mô dự kiến ít nhất 2 chuỗi liên kết hoàn chỉnh, gồm 2 cơ sở chăn nuôi, 2 cơ sở giết mổ tập trung, 2 đơn vị phân phối hoặc sơ chế, các đơn vị vận chuyển của chuỗi, 20 điểm bán (trong đó ít nhất 10 điểm bán nhỏ lẻ tại chợ) và 5 bếp ăn tập thể; lựa chọn 3 đến 5 xã, phường có các mắt xích của chuỗi.
Tiêu chí lựa chọn là các cơ sở hoạt động đáp ứng điều kiện pháp luật; có nguồn cung và giao nhận thường xuyên; xác định được các mắt xích trước và sau; có người phụ trách và cam kết cung cấp chứng từ, cho phép kiểm tra. Có cơ sở quy mô nhỏ để kiểm chứng khả năng áp dụng thực tế.
Hệ thống được thiết kế đơn giản, tối ưu hóa trên thiết bị di động và trình duyệt web, bảo đảm hộ kinh doanh thực hiện được các thao tác nhận lô, tách lô và giao lô sau khi được hướng dẫn tại chỗ. Ưu tiên tích hợp chức năng tra cứu trên Ứng dụng Công dân số Thủ đô (iHanoi) và Cổng thông tin điện tử, không yêu cầu người dân cài đặt thêm ứng dụng riêng.
Đồng thời, nâng cấp các phân hệ đã thử nghiệm và tổ chức kết nối, chia sẻ dữ liệu đồng bộ qua cổng API với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản thực phẩm Thành phố (check.hanoi.gov.vn), Hệ thống HanoiCheck và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành hiện có.
Để triển khai, Kế hoạch xác định 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm: rà soát, tổng hợp hiện trạng và các quy định; chuẩn hóa nghiệp vụ, thiết kế tổng thể Hệ thống; xây dựng và tích hợp Hệ thống; triển khai thí điểm; xây dựng quy định để quản lý, vận hành thống nhất trên toàn Thành phố.
Trong đó, Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì triển khai và tổng hợp chung. Sở phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế, Sở Công Thương, Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND các xã, phường được lựa chọn cùng các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi cung ứng để thực hiện các nhiệm vụ theo phân công.
Cụ thể, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày Kế hoạch được ban hành, các đơn vị hoàn thành rà soát, đánh giá hiện trạng và chốt danh sách chính thức các chuỗi, cơ sở tham gia thí điểm. Trên cơ sở kết quả rà soát, trong thời hạn 12 ngày làm việc, Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, xây dựng bộ dữ liệu lô tối thiểu, hồ sơ thiết kế tổng thể, phương án tích hợp dữ liệu và hướng dẫn vận hành hệ thống.
Việc xây dựng, tích hợp hệ thống phải hoàn thành trong 15 ngày làm việc kể từ ngày Kế hoạch được ban hành. Các cấu phần phục vụ vận hành thử phải hoàn thành trước khi đưa dữ liệu thực tế vào hệ thống. Thành phố ưu tiên phương án nâng cấp, bổ sung tính năng hoặc thuê dịch vụ công nghệ thông tin từ các hệ thống hiện có có khả năng kế thừa, bảo đảm đúng quy định pháp luật.
Trong quá trình thí điểm, các cơ sở được tập huấn trực tiếp theo ca sản xuất, kể cả ca đêm và rạng sáng; được hỗ trợ biểu mẫu, tài liệu, thiết lập tài khoản và kết nối dữ liệu. Hệ thống sẽ vận hành theo lô hàng và giao nhận thực tế, đồng thời thực hiện đối soát hằng ngày đối với các lô hàng thiếu hồ sơ, sai lệch số lượng hoặc sử dụng mã không đúng quy định. Cơ sở tham gia tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu nhập; UBND cấp xã thực hiện rà soát, kiểm tra theo thẩm quyền.
Đặc biệt, Kế hoạch yêu cầu thử nghiệm quy trình xử lý sự cố an toàn thực phẩm khẩn cấp và khoanh vùng tự động. Khi phát hiện lô hàng có rủi ro hoặc xảy ra sự cố, cơ quan quản lý chuyên ngành kích hoạt lệnh “Tạm dừng lưu thông hoặc tạm khóa mã QR lô hàng” trên hệ thống. Kết quả thí điểm được đánh giá toàn diện trên các tiêu chí về độ chính xác dữ liệu, thời gian xử lý sự cố, hiệu quả cảnh báo, truy xuất, thu hồi và chi phí vận hành.
Thời gian vận hành thí điểm tối thiểu 15 ngày; việc tổng kết, đánh giá dự kiến hoàn thành trong tháng 11/2026. Trên cơ sở kết quả triển khai, Thành phố sẽ xây dựng Quy chế quản lý, vận hành hệ thống, phân định rõ trách nhiệm quản trị nền tảng kỹ thuật, quản lý dữ liệu chuyên ngành, tạo lập, cập nhật, kiểm tra, hiệu chỉnh, khai thác và chia sẻ dữ liệu; đồng thời quy định cơ chế xử lý cảnh báo, phối hợp khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm.