Thời sự Đầu tư
Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới góc nhìn đại biểu là doanh nhân
Nguyễn Lê - 29/10/2026 17:40
Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, có nhiều chính sách mới, nỗ lực thể chế hóa Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Đại biểu Trần Thị Hiền tham gia thảo luận.

Chiều 29/10, tiếp tục kỳ họp thứ hai, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Dự thảo).

Với góc nhìn của người điều hành doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp của Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu Quốc hội – doanh nhân Trần Thị Hiền (Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Công ty cổ phần Xây dựng và Phát triển hạ tầng kỹ thuật Hà Nam) nhận xét dự thảo có nhiều chính sách mới, nỗ lực thể chế hóa Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.

Vị đại biểu – doanh nhân cũng đánh giá rất cao việc tổng kết kỹ lưỡng, nhìn thẳng vào những hạn chế, những việc chưa làm được qua 10 năm thi hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó, một hạn chế lớn đã được chỉ ra đó là “Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn phân tán, thiếu gắn kết theo chuỗi giá trị để tham gia thị trường bền vững”.

“Hơn bao giờ hết, việc sửa Luật lần này cần kiến tạo thể chế để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo chuỗi giá trị, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đồng thời thể chế hóa đầy đủ những chủ trương rất mới của Nghị quyết 68 về sự hỗ trợ, dẫn dắt của doanh nghiệp lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo nên một chỉnh thể chính sách phát triển thống nhất, phù hợp với thực tiễn”, bà Hiền nhấn mạnh.

Ưu tiên hỗ trợ giải pháp số phục vụ quản trị đơn hàng, truy xuất nguồn gốc

Với quan điểm đó, vị doanh nhân tập trung góp ý hoàn thiện quy định về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo chuỗi giá trị, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Theo đại biểu, đây là một yêu cầu cốt lõi của chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn hiện nay, bởi 3 vấn đề này quan hệ rất chặt chẽ. Chuyển đổi xanh đòi hỏi thay đổi kỹ thuật, công nghệ, nguyên liệu, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường; chuyển đổi số giúp nâng cao năng lực quản trị, chứng minh nguồn gốc sản phẩm và kết nối thị trường; còn liên kết chuỗi tạo quy mô thị trường, chia sẻ chi phí đầu tư và tăng khả năng chống chịu của doanh nghiệp nhỏ.

Nhìn vào thực tiễn phát triển các sản phẩm OCOP hiện nay có thể thấy rất rõ sự thiếu vắng mối liên kết này. Đến tháng 12/2025, cả nước có 18.234 sản phẩm OCOP từ 3 sao nhưng chỉ có 48,3% xây dựng được vùng nguyên liệu ổn định theo hướng liên kết chuỗi; một địa phương có thể có cả chục sản phẩm miến dong đạt tiêu chuẩn OCOP nhưng không tạo thành một thương hiệu chung, sản xuất quy mô lớn theo tiêu chuẩn chung để cung ứng ổn định cho các hệ thống phân phối lớn, bà Hiền nêu thực tế.

Nêu rõ tại các Điều 8, 11, 18, 21, 22 Dự thảo Luật đã bổ sung các chính sách hỗ trợ về phát triển hệ sinh thái, chuỗi giá trị, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tuy nhiên, đại biểu Hiền cho rằng ý nghĩa rất quan trọng của mối quan hệ giữa các thành tố này chưa được thể hiện một cách tương xứng.

Do đó, bà Hiền đề nghị bổ sung nguyên tắc “Ưu tiên hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị gắn với nâng cao năng lực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh của doanh nghiệp phù hợp với ngành nghề, quy mô và lộ trình phát triển; bảo đảm liên kết tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi.”. Việc quy định nội dung này trở thành một nguyên tắc trong thiết kế chính sách hỗ trợ là rất cần thiết và tạo sự đồng bộ với các điều 8, 12, 21, 22, bà Hiền góp ý.

Đồng thời, tại Điều 12 về phát triển thị trường, bà Hiền cho rằng cần nghiên cứu, bổ sung chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp cùng ngành hàng tăng cường liên kết để cùng xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu chung gắn với nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý theo pháp luật sở hữu trí tuệ; bao gồm quy chế sử dụng, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, giám sát tuân thủ và phát triển thị trường.

Từ kinh nghiệm xây dựng và phát triển các thương hiệu chung nổi tiếng thế giới như quả Kiwi Zespri, táo Jazz của New Zealand, theo đại biểu, đây là lúc cần luật hóa minh bạch chính sách hỗ trợ về phát triển thương hiệu chung, tạo nền tảng pháp lý để các cơ quan, các tổ chức xúc tiến thương mại, hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp lớn cùng chung tay xây dựng, phát triển một số thương hiệu chung có thể vững vàng chinh phục thị trường thế giới.

Bên cạnh đó, đối với chính sách chuyển đổi số tại Khoản 4 Điều 11, để tăng cường gắn kết với chuyển đổi xanh và chuỗi giá trị, vị đại biểu Ninh Bình đề nghị bổ sung nội dung ưu tiên hỗ trợ giải pháp số phục vụ quản trị đơn hàng, truy xuất nguồn gốc, đánh giá tiêu hao tài nguyên, năng lượng trong chuỗi giá trị; hỗ trợ chuẩn hóa dữ liệu, kết nối hệ thống và đào tạo người sử dụng. Đây mới là những nội dung hỗ trợ thực sự hữu ích đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thường hạn chế về nhân lực.

Khuyến khích doanh nghiệp lớn bảo lãnh khoản vay của doanh nghiệp nhỏ

Góp ý về tăng cường vai trò và sự tham gia, hỗ trợ, dẫn dắt của doanh nghiệp lớn trong chuỗi giá trị, bà Hiền đánh giá cao dự thảo Luật đã thể hiện rất rõ tư duy đổi mới, tại các điều 12, 18, 22 đã cụ thể hóa các chính sách thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp lớn thông qua hỗ trợ tham gia chuỗi giá trị, đào tạo nhân lực, tư vấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ…

Tuy nhiên để thể chế hóa đầy đủ và thực chất Nghị quyết 68 về vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị của doanh nghiệp lớn, nữ doanh nhân đề nghị nghiên cứu, bổ sung vào Điều 8 “Chính sách về tiếp cận nguồn vốn” nội dung khuyến khích doanh nghiệp lớn bảo lãnh, đồng bảo lãnh cho khoản vay của doanh nghiệp nhỏ tham gia trong chuỗi giá trị phù hợp với khả năng của mình. Sự tham gia bảo lãnh và chia sẻ rủi ro của doanh nghiệp lớn sẽ tạo niềm tin để tổ chức tín dụng yên tâm cấp vốn vay cho doanh nghiệp nhỏ.

Bên cạnh đó, để chính sách “khuyến khích các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đầu chuỗi, sàn thương mại điện tử xây dựng chương trình phát triển nhà cung cấp là doanh nghiệp nhỏ và vừa” tại Khoản 5 Điều 12 mang ý nghĩa thực chất thì cần làm rõ lợi ích mà doanh nghiệp lớn nhận được trong trường hợp này là gì? Những chi phí phát sinh để phát triển chuỗi cung ứng là doanh nghiệp nhỏ và vừa có được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, tương tự như quy định tại Khoản 5 Điều 12 không?, bà Hiền góp ý.

Đi đôi với quyền lợi đó, cũng cần có quy định rõ về việc doanh nghiệp lớn phải công khai tiêu chí lựa chọn nhà cung ứng; có cam kết hỗ trợ kỹ thuật, nghiệm thu và thanh toán đúng hạn, không lợi dụng vị thế để áp đặt độc quyền bất hợp lý lên doanh nghiệp nhỏ, theo góp ý của đại biểu Hiền.

Tin liên quan
Tin khác