Mức điểm được công bố cho 15 nhóm ngành đào tạo, là căn cứ xác định người học thuộc nhóm không vượt quá 30% thí sinh có điểm cao nhất của từng nhóm ngành thuộc phạm vi áp dụng chính sách.
| Mức điểm do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố được sử dụng để xác định người học thuộc nhóm không vượt quá 30% thí sinh có điểm cao nhất theo từng nhóm ngành quy định tại Nghị định số 179/2026/NĐ-CP. |
Đối với năm tuyển sinh 2025, mức điểm dao động từ 22,50 đến 24,35 điểm. Trong đó, Vật lý kỹ thuật có mức điểm cao nhất, 24,35 điểm. Hai nhóm Khoa học vật chất và Máy tính cùng ở mức 24,30 điểm; Toán học và Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông cùng 24,10 điểm; Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường 24 điểm; Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật 23,30 điểm.
Có 8 nhóm ngành cùng có mức điểm 22,50 gồm Sinh học, Sinh học ứng dụng, Khoa học trái đất, Thống kê, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa, Kỹ thuật mỏ và Xây dựng.
Sang năm tuyển sinh 2026, mức điểm tiếp tục nằm trong khoảng 22,50-24,35 điểm nhưng có sự điều chỉnh ở một số nhóm ngành. Ba nhóm có mức điểm cao nhất là Khoa học vật chất, Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông và Vật lý kỹ thuật, cùng đạt 24,35 điểm.
Tiếp đến là Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường với 23,95 điểm; Máy tính 23,85 điểm; Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật cùng Toán học ở mức 23,60 điểm.
Tám nhóm ngành còn lại tiếp tục có mức điểm 22,50, gồm Sinh học, Sinh học ứng dụng, Khoa học trái đất, Thống kê, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật địa chất, địa vật lý và trắc địa, Kỹ thuật mỏ và Xây dựng.
So với năm 2025, Kỹ thuật điện, điện tử và viễn thông tăng từ 24,10 lên 24,35 điểm; Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật tăng từ 23,30 lên 23,60 điểm; Khoa học vật chất tăng nhẹ từ 24,30 lên 24,35 điểm.
Ở chiều ngược lại, Toán học giảm từ 24,10 xuống 23,60 điểm; Máy tính giảm từ 24,30 xuống 23,85 điểm; Kỹ thuật hóa học, vật liệu, luyện kim và môi trường giảm từ 24 xuống 23,95 điểm. Vật lý kỹ thuật giữ nguyên mức 24,35 điểm.
Như vậy, dù khung điểm chung của hai năm đều từ 22,50 đến 24,35 điểm, mức điểm của từng nhóm ngành có sự dịch chuyển. Đáng chú ý, phần lớn các nhóm ngành có mức 22,50 điểm trong năm 2025 đều giữ nguyên sang năm 2026.
Mức điểm do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố được sử dụng để xác định người học thuộc nhóm không vượt quá 30% thí sinh có điểm cao nhất theo từng nhóm ngành quy định tại Nghị định số 179/2026/NĐ-CP.
Điều này cũng có nghĩa đạt mức điểm nêu trên chưa phải là căn cứ duy nhất để người học được hưởng học bổng. Các cơ sở đào tạo phải đồng thời căn cứ Danh mục ngành đào tạo được áp dụng chính sách học bổng do Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo ban hành cùng các điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại Nghị định số 179/2026/NĐ-CP để xác định người học đủ điều kiện.
Theo Nghị định 179, sinh viên thuộc nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược có thể nhận hỗ trợ từ 3,7 đến 5 triệu đồng mỗi tháng tùy chương trình đào tạo. Học viên cao học được hỗ trợ từ 5,5 đến 7,4 triệu đồng mỗi tháng, trong khi nghiên cứu sinh tiến sỹ có thể nhận tối đa 8,4 triệu đồng mỗi tháng.
Tính theo năm học, tổng mức hỗ trợ dao động từ 37 đến 84 triệu đồng. Đây được đánh giá là mức học bổng có giá trị lớn trong điều kiện hiện nay, đủ để nhiều người học trang trải học phí và phần lớn chi phí sinh hoạt.