Thời sự Đầu tư
Siết kỷ luật tiết kiệm, chống lãng phí: Làm rõ hành vi, tăng chế tài
Hồng Vân - 27/03/2026 14:51
Sau hơn 10 năm triển khai, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã phát huy hiệu quả, song trước yêu cầu mới và Luật sửa đổi năm 2025, nhiều quy định không còn phù hợp, cần sớm điều chỉnh.

Cấp thiết sửa đổi trong bối cảnh mới

Sau hơn một thập kỷ triển khai, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã khẳng định vai trò quan trọng trong quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt là việc ban hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí sửa đổi năm 2025, nhiều quy định hiện hành đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp, đòi hỏi phải sớm được điều chỉnh.

Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Quốc hội khóa XIII thông qua năm 2013 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân trong việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực xã hội. Hệ thống văn bản hướng dẫn, trong đó có Nghị định số 84/2014/NĐ-CP, đã được ban hành tương đối đầy đủ, tạo cơ sở triển khai thống nhất từ trung ương đến địa phương.

Một số quy định về tiết kiệm, chống lãng phí không còn phù hợp với Luật sửa đổi năm 2025. Ảnh: VGP.

Trong hơn 10 năm thực hiện, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công. Việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực như ngân sách nhà nước, tài sản công, vốn đầu tư công, tài nguyên, năng lượng… từng bước được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Tuy nhiên, quá trình tổng kết thực tiễn cho thấy, Nghị định số 84/2014/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều bất cập. Trước hết, một số quy định không còn phù hợp với Luật sửa đổi năm 2025, đặc biệt là các nội dung liên quan đến công khai, xây dựng chương trình tiết kiệm, chống lãng phí, chế độ báo cáo và cơ chế tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, một số nội dung trong nghị định không còn phù hợp do Luật mới không giao Chính phủ quy định chi tiết, hoặc đã được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện .

Thực tiễn triển khai tại các bộ, ngành, địa phương cũng cho thấy nhiều hạn chế đáng chú ý. Một số đơn vị chưa tuân thủ nghiêm quy định về thời hạn xây dựng và gửi chương trình, báo cáo; nội dung báo cáo còn mang tính hình thức, thiếu đánh giá cụ thể, chưa gắn với chỉ tiêu đề ra. Việc công khai thông tin ở một số nơi chưa bảo đảm về thời gian, nội dung và hình thức, làm giảm hiệu quả giám sát của cơ quan quản lý và xã hội.

Công tác kiểm tra, thanh tra về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở một số cấp, ngành chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục; việc phát hiện và xử lý hành vi lãng phí chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Những hạn chế này cho thấy khoảng trống nhất định trong khung pháp lý hiện hành.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng nghị định thay thế Nghị định số 84/2014/NĐ-CP được xác định là yêu cầu cấp thiết nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật sửa đổi, đồng thời khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Nâng cao hiệu quả thực thi

Dự thảo nghị định mới được xây dựng với mục tiêu không chỉ kế thừa các quy định còn phù hợp, mà còn bổ sung nhiều nội dung quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong giai đoạn mới.

Một trong những điểm nhấn đáng chú ý là việc bổ sung và làm rõ các hành vi gây lãng phí. Không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực truyền thống như quản lý tài chính công, tài sản công hay đầu tư công, dự thảo còn mở rộng sang các lĩnh vực như tổ chức bộ máy, quản lý và sử dụng lao động trong khu vực nhà nước.

Đặc biệt, dự thảo quy định cụ thể hành vi gây lãng phí trong đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công và vốn đầu tư công, nhất là các trường hợp kéo dài tiến độ, chậm đưa dự án vào khai thác, sử dụng so với kế hoạch được phê duyệt. Đây là những vấn đề nổi cộm trong thực tiễn, gây thất thoát, lãng phí lớn nguồn lực của Nhà nước.

Một điểm quan trọng khác là quy định về cách thức xác định hành vi gây lãng phí. Theo đó, việc xác định phải được thể hiện trong kết luận của cơ quan có thẩm quyền thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra hoặc giải quyết tố cáo, trên cơ sở xem xét toàn diện, khách quan và gắn với hậu quả cụ thể. Cách tiếp cận này nhằm tránh tình trạng đánh giá cảm tính, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xử lý vi phạm.

Dự thảo cũng bổ sung nhóm hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí, bao gồm các vi phạm liên quan đến xây dựng chương trình, thực hiện nhiệm vụ, chế độ báo cáo, công khai thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu, cũng như các hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các hành vi này được kỳ vọng sẽ tăng tính răn đe, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ.

Một điểm mới mang tính định hướng xã hội là quy định Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí vào ngày 31/5 hằng năm. Đây không chỉ là hoạt động mang tính biểu tượng mà còn hướng tới việc xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm trong toàn xã hội thông qua các hoạt động tuyên truyền, phát động phong trào, tiếp nhận sáng kiến và tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu biểu.

Bên cạnh đó, dự thảo nghị định cũng quy định về việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí, nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ công tác quản lý, theo dõi và đánh giá hiệu quả thực hiện. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Một nội dung quan trọng khác là quy định về trách nhiệm xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống lãng phí. Theo đó, các bộ, ngành, địa phương phải chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng lĩnh vực, địa bàn.

Có thể thấy, dự thảo nghị định mới hướng tới việc thiết lập một khung pháp lý đầy đủ, rõ ràng và khả thi hơn, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm của các chủ thể, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Đây là bước đi cần thiết trong bối cảnh yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực ngày càng cao, đặc biệt khi ngân sách nhà nước phải đáp ứng nhiều nhiệm vụ phát triển trong giai đoạn mới.
Nếu được ban hành và triển khai hiệu quả, nghị định này sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính, phòng ngừa và ngăn chặn lãng phí, đồng thời tạo nền tảng cho việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Tin liên quan
Tin khác