| Ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương |
Thời gian gần đây, Bộ Chính trị đã ban hành một loạt nghị quyết với tầm nhìn dài hạn, mang tính chiến lược, với tư duy mới, có tính đột phá về các vấn đề căn cốt, nền tảng để hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm của đất nước như: đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển kinh tế tư nhân; phát triển kinh tế nhà nước; hội nhập quốc tế; bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; phát triển văn hóa; chăm sóc sức khỏe nhân dân… Ông có thể khái quát chung về các nghị quyết này?
Điểm chung cốt lõi của các nghị quyết là hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp đồng bộ, toàn diện, vừa bảo đảm định hướng chiến lược lâu dài, vừa tập trung giải quyết những điểm nghẽn để tạo đột phá phát triển; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả, với tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”, bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn.
Những kết quả đó trước hết bắt nguồn từ sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là các định hướng lớn, có ý nghĩa đổi mới căn bản, tạo sự đột phá phát triển đất nước và các ngành, lĩnh vực của Tổng Bí thư Tô Lâm. Trên cơ sở đó, các cơ quan, trong đó có Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, theo nhiệm vụ được giao, đã tập trung nghiên cứu xây dựng các đề án để tham mưu ban hành hệ thống các nghị quyết, kết luận cụ thể hóa kịp thời tầm nhìn chiến lược và tư duy phát triển mới của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Nghị quyết số 57-NQ/TW mang tính đột phá được ban hành đầu tiên (ngày 22/12/2024) trong các nghị quyết đột phá. Thưa ông, quan điểm của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là gì?
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Điểm đột phá nổi bật của Nghị quyết là việc đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí nền tảng trung tâm, là đột phá quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển; đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu; phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nghị quyết thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ trong thiết kế 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, pháp luật là điều kiện tiên quyết, cần phải thực hiện và đi trước một bước; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hạ tầng số, dữ liệu và phát triển các công nghệ chiến lược...
Đặc biệt, việc thành lập Ban Chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết do Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp làm Trưởng ban và Hội đồng tư vấn gồm các nhà quản lý, nhà khoa học, các chuyên gia thể hiện quyết tâm chính trị cao và cách làm quyết liệt, sáng tạo trong tổ chức thực hiện Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.
Muốn kinh tế tăng trưởng 2 con số, phải bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Thưa ông, Nghị quyết số 70-NQ/TW đã thể hiện tầm nhìn chiến lược và đột phá tư duy trong phát triển năng lượng quốc gia thế nào?
Nghị quyết số 70-NQ/TW thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới căn bản trong phát triển năng lượng quốc gia, với cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ giữa xác định mục tiêu và hoàn thiện thể chế, thị trường, nguồn lực và các chủ thể tham gia.
Điểm cốt lõi của Nghị quyết là chuyển mạnh tư duy từ đáp ứng nhu cầu năng lượng sang bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia chủ động, bền vững, được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước; coi an ninh năng lượng là trụ cột quan trọng của an ninh quốc gia, gắn chặt với ổn định kinh tế vĩ mô và năng lực tự chủ của nền kinh tế; mở ra con đường xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả, phát triển ngành công nghiệp năng lượng quốc gia tự chủ thông qua các định hướng hoàn thiện về thể chế, mở rộng thị trường và thu hút nguồn lực đầu tư cho phát triển năng lượng.
Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ và giải pháp khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân tham gia bình đẳng trong phát triển các dự án năng lượng; thúc đẩy các cơ chế mới, như mua bán điện trực tiếp và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh.
Đồng thời, Nghị quyết định hướng phát triển các nguồn năng lượng mới, hiện đại hóa hạ tầng, xây dựng kho dự trữ chiến lược, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện linh hoạt cam kết quốc tế về giảm phát thải; thiết lập các biện pháp quản trị và ứng phó với rủi ro; lồng ghép hiệu quả các cam kết khí hậu quốc tế, qua đó biến thách thức chuyển đổi xanh thành cơ hội nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị năng lượng toàn cầu.
| Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trong ảnh: Sản xuất thiết bị điện cho xe ô tô tại nhà máy của THACO. Ảnh: Đ.T |
Tầm nhìn chiến lược và đột phá tư duy về kinh tế tư nhân được thể hiện như thế nào tại Nghị quyết số 68-NQ/TW, thưa ông?
Nghị quyết số 68-NQ/TW đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng khi chuyển từ coi “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” thành khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”; là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng.
Nghị quyết thể hiện sự đổi mới căn bản trong cách tiếp cận, theo đó Nhà nước chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, đồng hành cùng doanh nghiệp, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, an toàn, thuận lợi; bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng, được tự do kinh doanh các ngành nghề pháp luật không cấm; tạo dựng, củng cố niềm tin giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và doanh nhân; bảo đảm kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong tiếp cận cơ hội kinh doanh và các nguồn lực của nền kinh tế.
Trọng tâm chính sách là cải cách thể chế, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, không hình sự hóa quan hệ kinh tế, hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, có cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong những lĩnh vực ưu tiên, đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tham gia vào các nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của quốc gia…
Đồng thời, Nghị quyết có định hướng khuyến khích hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế; tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI; hỗ trợ thực chất doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh; thúc đẩy kết nối chuỗi cung ứng trong nước; định hướng phát triển kinh tế tư nhân gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, qua đó phát huy đầy đủ vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Cùng với Nghị quyết 68-NQ/TW, Bộ Chính trị cũng ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Ông có thể nói rõ hơn về nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước?
Nghị quyết số 79-NQ/TW là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước (trước đây, Nghị quyết số 12-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII chỉ tập trung về doanh nghiệp nhà nước). Nghị quyết khẳng định, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết, dẫn dắt phát triển, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời, kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới.
Điểm mới nổi bật của Nghị quyết là các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường; phải đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế. Kinh tế nhà nước phải bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển; phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; cùng với các thành phần kinh tế khác trong nước xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả; tiên phong kiến tạo phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa; cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới; dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại.
Nghị quyết đã đề ra mục tiêu tổng quát và 5 nhóm mục tiêu cụ thể về: đất đai, tài nguyên, tài sản; kết cấu hạ tầng; về ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; doanh nghiệp nhà nước; tổ chức tín dụng nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; đồng thời đề ra nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung và 6 nhóm nhiệm vụ cụ thể, toàn diện theo từng nhóm thành tố cấu thành kinh tế nhà nước.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng ta đánh dấu bước ngoặt lịch sử, mở ra kỷ nguyên phát triển vươn mình của đất nước với nhiều đổi mới mạnh mẽ, có tính cách mạng. Trong bối cảnh đó, thưa ông, công tác nghiên cứu, tham mưu chiến lược của Đảng cần tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt, thực hiện tốt hơn nữa chức năng, trách nhiệm tham mưu với Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để xem xét, ban hành các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ và giải pháp mang tính chiến lược, toàn diện và lâu dài?
Trước yêu cầu mới đặt ra từ Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, công tác nghiên cứu, tham mưu chiến lược cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương thức tổ chức thực hiện và nâng tầm về chất lượng. Trước hết, cần sớm tập trung nghiên cứu, xây dựng các đề án, nhiệm vụ nêu tại Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu triển khai tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; tổng kết 100 năm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam (1930 - 2030) và định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130).
Bên cạnh đó, trên cơ sở bám sát Văn kiện Đại hội XIV và tình hình thực tiễn, xu thế trong nước và quốc tế, cần tiếp tục tham mưu các nhiệm vụ, đề án mới. Phối hợp chặt chẽ và hiệu quả với các cơ quan nhà nước để kịp thời cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng thành chương trình hành động, kế hoạch khả thi. Tăng cường công tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện các nghị quyết. Phát huy tốt vai trò chủ trì, phối hợp nghiên cứu, tham mưu, đề xuất giải quyết những vấn đề lớn, phức tạp, mới nảy sinh mang tầm chiến lược về kinh tế - xã hội, việc thí điểm, tổng kết một số chủ trương, mô hình mới trong các lĩnh vực.
Trong quá trình thực hiện, cần phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động trí tuệ của các cơ quan hoạch định chính sách, tổ chức nghiên cứu, các nhà khoa học, chuyên gia trong nước và quốc tế, gắn chặt với thực tiễn từ địa phương, doanh nghiệp và người dân.