Thu nội địa đạt 611.000 tỷ đồng
Theo Thống kê TP. Hà Nội, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Hà Nội đến hết tháng 10/2026 ước đạt 652.200 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, thu nội địa đạt 611.000 tỷ đồng, vượt 0,2% dự toán năm và tăng 10,4% so với cùng kỳ. Thu từ dầu thô đạt 2.900 tỷ đồng, bằng 82,2% dự toán và tăng 28,8%. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 37.100 tỷ đồng, bằng 101,3% dự toán và tăng 20%.
Trong các khoản thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 148.800 tỷ đồng, bằng 104,4% dự toán và tăng 26,4% so với cùng kỳ. Thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 71.800 tỷ đồng, bằng 85,9% dự toán và tăng 5,2%. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 39.900 tỷ đồng, bằng 94,5% dự toán và tăng 34,1%.
Thu tiền sử dụng đất đạt 98.300 tỷ đồng, bằng 118,7% dự toán và tăng 9,8% so với cùng kỳ. Thuế thu nhập cá nhân đạt 53.800 tỷ đồng, bằng 77,5% dự toán và giảm 0,2%. Thu phí và lệ phí đạt 26.600 tỷ đồng, bằng 88,5% dự toán và tăng 23,7%. Riêng lệ phí trước bạ đạt 6.500 tỷ đồng, bằng 64,2% dự toán và 95,3% mức thực hiện cùng kỳ.
Chi ngân sách địa phương đến cuối tháng 10/2026 ước đạt 195.700 tỷ đồng, bằng 82,9% dự toán và tăng 83,1% so với cùng kỳ. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 128.900 tỷ đồng, bằng 75,4% dự toán và gấp 2,66 lần cùng kỳ. Chi thường xuyên đạt 66.600 tỷ đồng, bằng 83% dự toán và tăng 14,3%.
Dư nợ tín dụng tăng 17,17% so với cuối năm 2025
Trong 10 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn Hà Nội tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ khách hàng và doanh nghiệp.
Trong tháng 10, lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại các ngân hàng thương mại trong nước phổ biến ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, 4,1-4,6%/năm đối với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng. Lãi suất kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng ở mức 6,5-8%/năm, kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng ở mức 6,1-7,6%/năm và kỳ hạn trên 24 tháng ở mức 7,6-8,3%/năm.
Lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước ở mức 8,4-10,7%/năm. Mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với một số lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Đến cuối tháng 10/2026, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn Hà Nội ước đạt 7.925 nghìn tỷ đồng, tăng 1,34% so với cuối tháng trước và 11,93% so với cuối năm 2025. Trong đó, tiền gửi đạt 6.971 nghìn tỷ đồng, tăng tương ứng 1,40% và 11,15%. Vốn huy động qua phát hành giấy tờ có giá đạt 954 nghìn tỷ đồng, tăng tương ứng 0,89% và 17,97%.
Tiền gửi tiết kiệm đạt 2.183 nghìn tỷ đồng, tăng 2,42% so với cuối tháng trước và 19,45% so với cuối năm 2025. Tiền gửi có kỳ hạn đạt 3.358 nghìn tỷ đồng, tăng tương ứng 1,05% và 9,46%. Tiền gửi thanh toán đạt 1.430 nghìn tỷ đồng, tăng tương ứng 0,70% và 3,90%.
Tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn Thành phố ước đạt 6.768 nghìn tỷ đồng vào cuối tháng 10, tăng 2,90% so với cuối tháng trước và 17,17% so với cuối năm 2025. Dư nợ ngắn hạn đạt 2.578 nghìn tỷ đồng, tăng tương ứng 1,95% và 13,17%. Dư nợ trung và dài hạn đạt 4.190 nghìn tỷ đồng, tăng tương ứng 3,50% và 19,78%. Nợ xấu chiếm 1,49% tổng dư nợ.
Trong các lĩnh vực tín dụng ưu tiên, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 21,85%, cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm 9,77% và cho vay xuất khẩu chiếm 5,06%. Tỷ trọng cho vay công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao lần lượt là 2,47% và 0,42%.
HNX và UPCoM có 1.113 doanh nghiệp được phép giao dịch
Đến hết ngày 27/10/2026, hai thị trường do Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội quản lý có 1.113 doanh nghiệp được phép giao dịch, giảm 4 doanh nghiệp so với cuối tháng trước và giảm 72 doanh nghiệp so với cùng kỳ. Trong đó, HNX có 299 doanh nghiệp và UPCoM có 814 doanh nghiệp.
Tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt 696.400 tỷ đồng. Giá trị niêm yết trên HNX đạt 210.400 tỷ đồng, tăng 0,79% so với cuối tháng trước và 21,51% so với cuối tháng cùng kỳ. Giá trị đăng ký giao dịch trên UPCoM đạt 486.000 tỷ đồng, tăng 2,13% so với cuối tháng trước và giảm 2,86% so với cuối tháng cùng kỳ.
Tại thời điểm đóng cửa phiên ngày 27/10, tổng giá trị vốn hóa hai thị trường đạt 1.759 nghìn tỷ đồng. Vốn hóa trên HNX đạt 451.000 tỷ đồng, giảm 1,61% so với cuối tháng trước và tăng 0,79% so với cuối tháng cùng kỳ. Vốn hóa trên UPCoM đạt 1.308 nghìn tỷ đồng, tăng 0,54% so với cuối tháng trước và giảm 11,52% so với cuối tháng cùng kỳ.
Trên thị trường cổ phiếu niêm yết HNX, tính đến hết phiên 27/10, giá trị giao dịch bình quân trong tháng đạt 840 tỷ đồng mỗi phiên, tăng 18,6% so với bình quân tháng trước và giảm 66,2% so với bình quân cùng kỳ. Riêng giá trị khớp lệnh bình quân đạt 720 tỷ đồng mỗi phiên, tăng 15,8% so với tháng trước và giảm 68,4% so với cùng kỳ. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 27/10, khối lượng giao dịch đạt 13,7 tỷ cổ phiếu, với giá trị chuyển nhượng 260.400 tỷ đồng.
Trong tháng 9/2026, nhà đầu tư nước ngoài được cấp mới 252 mã số giao dịch, gồm 31 mã cho tổ chức và 221 mã cho cá nhân. Đến hết tháng 9, số tài khoản giao dịch của nhà đầu tư được cấp mới đạt 2.260.700 tài khoản.