Béo phì gia tăng nhanh, kéo theo gánh nặng bệnh tim mạch
Tại một hội nghị gần đây về tim mạch, GS-TS.Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam dẫn báo cáo của Liên đoàn Béo phì thế giới năm 2025 cho biết, tỷ lệ người trưởng thành thừa cân, béo phì trên toàn cầu đã tăng từ khoảng 36% năm 2010 lên gần 48% năm 2022.
| Tỷ lệ thừa cân, béo phì đang tăng nhanh trên toàn cầu và tại Việt Nam, kéo theo nguy cơ gia tăng hàng loạt bệnh tim mạch, chuyển hóa và bệnh không lây nhiễm. |
Nếu xu hướng hiện nay tiếp diễn, đến năm 2030, khoảng 3 tỷ người trưởng thành, tương đương 50% dân số trưởng thành toàn cầu, sẽ thừa cân hoặc béo phì. Trong đó, hơn 1,1 tỷ người có thể mắc béo phì với chỉ số BMI từ 30 kg/m² trở lên và khoảng 400 triệu người thuộc nhóm béo phì nặng.
Tại Việt Nam, tỷ lệ béo phì ở người trưởng thành từ 18-69 tuổi năm 2021 là 19,5%. Dù thấp hơn mức trung bình thế giới, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tốc độ gia tăng thừa cân, béo phì nhanh.
Giai đoạn 2000-2016, tỷ lệ thừa cân, béo phì tăng trung bình khoảng 3,8% mỗi năm và được dự báo tiếp tục tăng khoảng 4% mỗi năm trong giai đoạn 2020-2035.
Đáng lưu ý, ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi, giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ thừa cân, béo phì tăng trung bình 7,9% mỗi năm, thuộc nhóm cao trên thế giới.
Các chuyên gia cho rằng những con số này phản ánh quá trình chuyển đổi dịch tễ dinh dưỡng mạnh mẽ, với gánh nặng thừa cân, béo phì gia tăng nhanh ở cả người trưởng thành lẫn trẻ em. Đi cùng xu hướng này là nguy cơ tăng các bệnh không lây nhiễm và áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống y tế.
Hội Tim mạch học Việt Nam đã xây dựng Đồng thuận năm 2026 về Béo phì và Bệnh tim mạch, trong đó nhấn mạnh béo phì không đơn thuần là vấn đề ngoại hình hay hệ quả của thiếu ý chí, mà là một bệnh mạn tính, đa yếu tố và dễ tái phát.
Thừa cân, béo phì làm gia tăng nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, rối loạn lipid máu, bệnh thận mạn, gan nhiễm mỡ chuyển hóa và ngưng thở khi ngủ. Đồng thời, béo phì còn trực tiếp góp phần thúc đẩy xơ vữa động mạch, suy tim và một số bệnh van tim.
Do đó, việc đánh giá béo phì hiện nay không nên chỉ dựa vào cân nặng hoặc chỉ số BMI, mà cần xem xét thêm vòng eo, phân bố mỡ, giai đoạn bệnh, tổn thương cơ quan đích và nguy cơ tim - thận - chuyển hóa.
Mục tiêu điều trị cũng đang thay đổi từ câu hỏi “giảm được bao nhiêu kg” sang cải thiện sức khỏe và kết cục lâm sàng, trong đó ưu tiên giảm nguy cơ biến cố tim mạch, nâng cao khả năng vận động và chất lượng sống.
Điều trị béo phì cần được thực hiện toàn diện và cá thể hóa. Thay đổi lối sống vẫn là nền tảng, trong khi thuốc, can thiệp nội soi hoặc phẫu thuật chuyển hóa có thể được cân nhắc tùy theo chỉ định, lợi ích - nguy cơ và các bệnh đồng mắc của từng người bệnh.
GS-TS.Phạm Mạnh Hùng cho biết, trí tuệ nhân tạo và các ứng dụng công nghệ có thể hỗ trợ phát hiện yếu tố nguy cơ, nâng cao khả năng chẩn đoán và giúp bác sỹ đưa ra quyết định điều trị phù hợp hơn với từng người bệnh.
Nguy cơ hôn mê, tử vong từ việc tự ý dùng thuốc đái tháo đường
Trung tâm Nội tiết và Chuyển hóa, Bệnh viện Bạch Mai vừa tiếp nhận cấp cứu một phụ nữ 69 tuổi trong tình trạng hôn mê sâu do hạ đường huyết nghiêm trọng sau khi tự ý sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường của chồng.
Tiến sỹ, bác sỹ Nguyễn Quang Bảy, Giám đốc Trung tâm Nội tiết và Chuyển hóa cho biết, người bệnh có tiền sử tăng huyết áp và Basedow. Do chồng mắc đái tháo đường, bà có một số hiểu biết nhất định về căn bệnh này. Gần đây, nhận thấy bản thân đi tiểu nhiều, kèm cảm giác mệt mỏi, bà cho rằng mình cũng mắc đái tháo đường.
Thay vì đến cơ sở y tế thăm khám và thực hiện các xét nghiệm cần thiết, người phụ nữ tự lấy thuốc của chồng để uống với liều 2 viên Gliclazide 30 mg mỗi ngày. Chỉ sau một ngày sử dụng, bà được gia đình phát hiện trong tình trạng hôn mê sâu và lập tức đưa đến Bệnh viện Bạch Mai cấp cứu.
Kết quả kiểm tra cho thấy đường huyết của người bệnh chỉ còn 1,6 mmol/L, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng bình thường. Đây là tình trạng hạ đường huyết nghiêm trọng, có thể gây co giật, tổn thương não, hôn mê và đe dọa tính mạng nếu không được xử trí kịp thời. May mắn, người bệnh được cấp cứu thành công, sức khỏe ổn định và đã xuất viện.
Theo các bác sỹ, mỗi ngày Trung tâm Nội tiết và Chuyển hóa tiếp nhận khoảng 1-2 bệnh nhân đái tháo đường phải nhập viện do hạ đường huyết. Tuy nhiên, trường hợp này đặc biệt đáng chú ý bởi người bệnh chưa được xác định mắc đái tháo đường nhưng đã tự ý sử dụng thuốc hạ đường huyết.
Gliclazide là thuốc điều trị đái tháo đường thuộc nhóm sulfonylurea, có tác dụng kích thích tuyến tụy tiết insulin để làm giảm đường huyết. Việc sử dụng thuốc không đúng chỉ định, không phù hợp với tình trạng bệnh hoặc chế độ ăn uống có thể gây hạ đường huyết nghiêm trọng, đặc biệt ở người cao tuổi.
Từ trường hợp trên, bác sỹ Nguyễn Quang Bảy cảnh báo, một trong những sai lầm phổ biến là tự kết luận mắc đái tháo đường chỉ dựa vào triệu chứng tiểu nhiều, khát nước hoặc mệt mỏi. Những biểu hiện này có thể liên quan đến nhiều bệnh lý khác nhau, không đủ căn cứ để chẩn đoán đái tháo đường hay quyết định sử dụng thuốc.
Theo chuyên gia, bốn triệu chứng kinh điển của đái tháo đường gồm tiểu nhiều, khát nhiều, ăn nhiều và sụt cân. Ngoài ra, người bệnh có thể xuất hiện tình trạng mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, nhìn mờ, tê bì tay chân, vết thương lâu lành, nhiễm trùng da, nhiễm nấm sinh dục hoặc nhiễm trùng tiết niệu tái diễn.
Đáng lo ngại, một số người chỉ được chẩn đoán đái tháo đường sau khi đã xuất hiện biến chứng tại tim mạch, thận, mắt hoặc hệ thần kinh. Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy gần 2/3 số người mắc đái tháo đường được phát hiện tình cờ.
Bác sỹ Nguyễn Quang Bảy nhấn mạnh, bản chất của đái tháo đường là tình trạng tăng đường huyết kéo dài, gây tổn thương nhiều cơ quan trong cơ thể. Glucose có thể xuất hiện trong nước tiểu nếu nồng độ đường trong máu vượt quá khả năng tái hấp thu của thận, song đây không phải điều kiện bắt buộc để xác định bệnh.
Theo hướng dẫn chuyên môn của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ và Bộ Y tế, việc chẩn đoán đái tháo đường phải dựa trên các xét nghiệm máu với những tiêu chuẩn cụ thể.
Một người có thể được xác định mắc đái tháo đường nếu đường huyết lúc đói từ 7,0 mmol/L (126 mg/dL) trở lên, sau khi nhịn ăn ít nhất 8 giờ; hoặc chỉ số HbA1c từ 6,5% trở lên. HbA1c phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 2-3 tháng trước thời điểm xét nghiệm.
Ngoài ra, bệnh có thể được chẩn đoán thông qua nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống. Nếu đường huyết sau 2 giờ uống 75 g glucose đạt từ 11,1 mmol/L trở lên, kết quả đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường.
Đối với người có các triệu chứng tăng đường huyết điển hình hoặc tình trạng tăng đường huyết rõ rệt, chỉ số đường huyết tại thời điểm bất kỳ từ 11,1 mmol/L trở lên cũng có giá trị chẩn đoán. Trường hợp không có triệu chứng rõ ràng, bác sỹ thường cần xác nhận kết quả bất thường bằng xét nghiệm bổ sung hoặc xét nghiệm lại trước khi đưa ra kết luận.
Một quan niệm sai lầm khác là cho rằng đái tháo đường chỉ xuất hiện ở người cao tuổi hoặc thừa cân, béo phì. Trên thực tế, người trẻ, người có thể trạng gầy vẫn có nguy cơ mắc bệnh. Đái tháo đường type 2 ngày càng được ghi nhận ở những người trẻ tuổi, trong khi đái tháo đường type 1 có thể xuất hiện ở cả trẻ em và người trưởng thành.
Các bác sỹ khuyến cáo, người dân cần chủ động kiểm tra đường huyết theo tư vấn chuyên môn, đặc biệt nếu có tiền sử gia đình mắc đái tháo đường, thừa cân, béo phì, tăng huyết áp hoặc các yếu tố nguy cơ chuyển hóa khác. Việc phát hiện sớm giúp người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng, vận động và điều trị phù hợp, giảm nguy cơ biến chứng lâu dài.
Đặc biệt, người dân tuyệt đối không tự ý sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường của người khác, kể cả người thân trong gia đình. Mỗi loại thuốc có cơ chế tác dụng, chỉ định và nguy cơ khác nhau, đòi hỏi phải được bác sỹ đánh giá và theo dõi trong quá trình điều trị.
Theo bác sỹ Nguyễn Quang Bảy, người dân không nên đợi đến lúc xuất hiện các triệu chứng khát nhiều, tiểu nhiều, sụt cân hoặc biến chứng mới kiểm tra đường huyết. Chủ động xét nghiệm đúng thời điểm và tuân thủ chỉ định điều trị là cách bảo vệ sức khỏe, tránh những tai biến đáng tiếc như trường hợp người phụ nữ 69 tuổi vừa được cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai.
Phẫu thuật ung thư tuyến giáp bằng bản đồ hạch, phát hiện ổ di căn chỉ 1 mm
Ứng dụng kỹ thuật vét hạch cổ chọn lọc dựa trên bản đồ hạch, các bác sỹ Bệnh viện Nội tiết Trung ương phát hiện những ổ di căn ung thư tuyến giáp có kích thước chỉ 1 mm, đồng thời hạn chế can thiệp không cần thiết, giảm nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật.
Các bác sỹ Bệnh viện Nội tiết Trung ương vừa phẫu thuật thành công cho bệnh nhân N.T.T. (55 tuổi, trú tại Hưng Yên) mắc ung thư tuyến giáp thể nhú thùy trái, có tổn thương hạch nghi ngờ ở vùng cổ bên trái. Điểm đáng chú ý là ê-kíp đã áp dụng phương pháp vét hạch cổ chọn lọc dựa trên bản đồ hạch nhằm xác định chính xác phạm vi tổn thương, tránh bỏ sót hạch di căn nhưng không mở rộng phẫu thuật quá mức cần thiết.
Thạc sỹ, bác sỹ Nguyễn Ngọc Huân, Khoa Ngoại chung, Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho biết, kết quả siêu âm và chụp cắt lớp vi tính (CT) trước phẫu thuật phát hiện hạch bất thường tại nhóm III cổ trái. Tuy nhiên, xét nghiệm chọc hút tế bào hạch chỉ ghi nhận tình trạng viêm mạn tính, chưa phát hiện tế bào ung thư.
Do hình ảnh học vẫn cho thấy những đặc điểm nghi ngờ, các bác sỹ quyết định định vị hạch bằng siêu âm, đánh dấu vị trí trên da theo các mốc giải phẫu trước khi tiến hành phẫu thuật. Bước chuẩn bị này giúp xác định rõ khoang hạch cần tiếp cận, từ đó lựa chọn phạm vi can thiệp phù hợp với tình trạng tổn thương của người bệnh.
Bệnh nhân được chỉ định cắt toàn bộ tuyến giáp kết hợp vét hạch cổ chọn lọc nhóm III bên trái. Thay vì chỉ lấy riêng hạch bất thường quan sát được bằng mắt thường, ê-kíp tiến hành lấy trọn mô mỡ và hạch trong khoang giải phẫu đã xác định. Phương pháp này cho phép đánh giá đầy đủ các hạch trong khu vực nghi ngờ, hạn chế bỏ sót những ổ di căn có kích thước rất nhỏ.
Kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật xác định 2 trong tổng số 6 hạch cổ khoang bên trái có tế bào ung thư tuyến giáp thể nhú di căn, trong khi các hạch trung tâm được đánh giá không ghi nhận di căn. Đáng chú ý, ổ di căn lớn nhất chỉ có kích thước 1 mm và không có dấu hiệu xâm lấn ngoài hạch.
Theo bác sỹ Huân, đây là trường hợp di căn hạch "nhảy cóc", một hiện tượng có thể gặp trong ung thư tuyến giáp thể nhú. Theo đó, tế bào ung thư di căn đến hạch cổ khoang bên mà không ghi nhận di căn tại hạch cổ khoang trung tâm.
Trường hợp này cho thấy những ổ di căn hạch trong ung thư tuyến giáp đôi khi có kích thước rất nhỏ, khó nhận diện bằng mắt thường. Đồng thời, kết quả chọc hút tế bào trước phẫu thuật chưa phát hiện tế bào ung thư cũng không loại trừ hoàn toàn khả năng di căn, nhất là khi các phương pháp chẩn đoán hình ảnh vẫn ghi nhận dấu hiệu bất thường.
Sau phẫu thuật, sức khỏe người bệnh ổn định, không xuất hiện các biến chứng như khàn tiếng, tê tay, chảy máu hoặc rò dưỡng chấp. Ngay từ ngày đầu tiên sau mổ, bệnh nhân đã có thể ăn uống, sinh hoạt bình thường.
Theo các chuyên gia, phẫu thuật vét hạch cổ trong điều trị ung thư tuyến giáp đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa hiệu quả kiểm soát tổn thương và nguy cơ biến chứng. Việc vét hạch không đủ phạm vi có thể bỏ sót tổn thương di căn, trong khi mở rộng phẫu trường không cần thiết làm tăng nguy cơ tổn thương mô, chảy máu, rò dưỡng chấp và ảnh hưởng đến quá trình hồi phục.
Bác sỹ Nguyễn Ngọc Huân nhận định, lập bản đồ hạch trước phẫu thuật có vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí, khoang giải phẫu và phạm vi cần can thiệp. Trên cơ sở đánh giá tổn thương của từng bệnh nhân, phẫu thuật viên có thể lựa chọn phương án phù hợp, lấy đủ mô hạch trong khu vực cần đánh giá nhưng hạn chế tối đa những can thiệp không cần thiết.
Hiện Bệnh viện Nội tiết Trung ương đang triển khai các kỹ thuật phẫu thuật tuyến giáp và vét hạch cổ theo hướng cá thể hóa, hướng tới kiểm soát hiệu quả tổn thương ung thư, giảm nguy cơ biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống sau điều trị.
Theo ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100-6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp và 850-900 trường hợp tử vong. Tỷ lệ mắc ở nữ giới cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới. Tuy nhiên, đây là bệnh ung thư có tiên lượng tương đối tốt, với tỷ lệ sống sau 5 năm có thể đạt trên 90% nếu được phát hiện sớm.
Số ca ung thư tuyến giáp được chẩn đoán gia tăng đáng kể trong khoảng hai thập kỷ qua. Tại TP.HCM, tỷ lệ mắc tăng từ 2,4 lên 7,5 trường hợp trên 100.000 dân trong giai đoạn 1996-2015, tương ứng tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7% mỗi năm.
Tuy nhiên, các chuyên gia lưu ý, sự gia tăng số ca được chẩn đoán không hoàn toàn đồng nghĩa với việc bệnh thực sự xuất hiện nhiều hơn. Việc sử dụng rộng rãi các phương tiện chẩn đoán hiện đại như siêu âm, CT và cộng hưởng từ (MRI) giúp phát hiện ngày càng nhiều nhân giáp nhỏ, trong đó có những tổn thương tiến triển chậm, ít nguy cơ và chưa cần can thiệp ngay.
Các thống kê cho thấy khoảng 19-68% dân số có nhân giáp, nhưng chỉ khoảng 3-7% số nhân giáp là ung thư. Kinh nghiệm tại Hàn Quốc cũng ghi nhận số ca chẩn đoán ung thư tuyến giáp tăng tới 15 lần trong vòng 10 năm, trong khi tỷ lệ tử vong không thay đổi đáng kể. Thực tế này đặt ra yêu cầu hạn chế chẩn đoán và điều trị quá mức.
Trước xu hướng trên, Bộ Y tế định hướng chuyển từ việc chú trọng phát hiện càng nhiều trường hợp càng tốt sang phát hiện đúng, điều trị phù hợp và quản lý bệnh hiệu quả. Một trong những giải pháp trọng tâm là không triển khai sàng lọc ung thư tuyến giáp đại trà ở người không có triệu chứng, thay vào đó tập trung đánh giá các nhóm nguy cơ cao.