Tổng giám đốc kiêm Giám đốc cấp cao khối Nghiên cứu và Tư vấn, JLL Việt Nam đánh giá, Việt Nam vẫn là một địa chỉ thu hút dòng vốn FDI trên toàn cầu. Tuy nhiên câu chuyện về sức cạnh tranh từ các quốc gia khác đang thể hiện ngày càng rõ nét hơn và cụ thể ở đây là con số về thu hút vốn FDI vào Việt Nam.
Theo bà Trang Lê, trong 10 năm qua, thị phần FDI sản xuất của Trung Quốc so với các nước trong khu vực giảm 40,5 điểm phần trăm. Dòng vốn này không biến mất, mà dịch chuyển sang những điểm đến mới.
Chiến lược "Trung Quốc+1" của các tập đoàn đa quốc gia đã đưa Đông Nam Á trở thành lựa chọn hàng đầu, với Indonesia dẫn đầu (tăng 12,4 điểm phần trăm), tiếp theo là Thái Lan (tăng 9,1 điểm phần trăm) và Việt Nam (tăng 3,2 điểm phần trăm).
Tuy nhiên, khi xem xét kỹ hơn, dù Việt Nam đang tăng thị phần, Indonesia và Thái Lan cũng tăng trưởng mạnh mẽ không kém. Cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư trong khối ASEAN ngày càng gay gắt, trong khi lợi thế chi phí lao động - thế mạnh truyền thống của Việt Nam đang dần thu hẹp.
| Bà Trang Lê, Tổng giám đốc kiêm Giám đốc cấp cao khối Nghiên cứu và Tư vấn, JLL Việt Nam. |
Mặc dù vậy, Việt Nam sở hữu những lợi thế cấu trúc khó có thể sao chép: Vị trí địa lý chiến lược, mạng lưới FTA thuộc nhóm rộng mở nhất khu vực, cùng nền kinh tế nội địa không ngừng tăng trưởng.
Sức hút của Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế vẫn duy trì ở mức cao, thể hiện qua tổng vốn FDI đăng ký trong nửa đầu năm 2026 đạt 34,7 tỷ USD (tăng 61% so với cùng kỳ) và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 21%.
Việt Nam duy trì lợi thế nằm trong top 3 địa điểm thu hút dòng vốn FDI trên toàn cầu. Mức độ cạnh tranh từ các quốc gia khác ngày càng thể hiện rõ qua các số liệu cụ thể.
Trong 20 - 30 năm đầu, việc thu hút FDI chủ yếu chạy theo biến động thị trường khi các bên tự tìm hướng đi. Nhưng sau thời gian phát triển, mô hình sinh thái theo khu vực đã hình thành rõ nét.
Trong đó, miền Bắc có lợi thế lớn trong thu hút dòng vốn ngành điện tử và linh kiện điện tử, với khoảng 13.000 ha đất công nghiệp trên 75 khu công nghiệp, đang củng cố vị thế là trung tâm sản xuất công nghệ cao tăng trưởng nhanh nhất cả nước.
Tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 82%, nhà xưởng và nhà kho xây sẵn lần lượt đạt mức 85% và 73%. Cơ cấu khách thuê dịch chuyển mạnh từ sản xuất truyền thống sang điện tử, thiết bị điện và cơ khí chính xác.
Còn thị trường phía Nam đóng vai trò là trung tâm phát triển chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics/hậu cần cho thị trường nội địa cũng như kết nối liên vùng. Đây cũng là thị trường lớn nhất với 28.100 ha đất công nghiệp, 5,9 triệu m2 nhà xưởng và 5,6 triệu m2 nhà kho xây sẵn, tiếp tục là trung tâm sản xuất và logistics tổng hợp của cả nước.
Tỷ lệ lấp đầy nhà kho xây sẵn đạt đến 92%, phản ánh sự phát triển mạnh của thương mại điện tử và nhu cầu logistics hiện đại. JLL dự báo, đến năm 2030, nguồn cung đất công nghiệp tại mỗi miền sẽ tăng thêm khoảng 5.000-6.000 ha.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đợt "đổi mới lần thứ hai", vấn đề then chốt không chỉ là "cơ hội là gì", mà là Việt Nam sẽ phát triển theo tốc độ và quy mô như thế nào?
Việt Nam đang chuyển dịch từ thu hút đầu tư nhờ chi phí thấp sang tập trung thu hút dòng vốn chất lượng cao. Các yếu tố quyết định năng lực hấp thụ dòng vốn chất lượng cao là tính hiệu quả và năng suất lao động; hạ tầng và các dự án phụ trợ.
Trong đó, nổi bật nhất là năng suất lao động. Chúng ta cần một lượng nhân lực có kỹ năng và có thể đào tạo nhanh để nhanh chóng hấp thụ dòng vốn.
“Tại những doanh nghiệp mà tôi được tiếp cận thời gian qua, tốc độ để đưa được dự án đi vào vận hành là yếu tố được doanh nghiệp rất chú trọng. Nhưng với các doanh nghiệp nhỏ thì tốc độ để đưa dự án vào vận hành vẫn còn tốn nhiều thời gian", bà Trang Lê nêu.
Về hạ tầng giao thông và khả năng kết nối, theo bà Trang Lê, trong giai đoạn vừa qua Việt Nam đã và đang tập trung phát triển về hạ tầng, song cũng phải nhìn một thực tế rằng vẫn chưa đủ nhanh để có thể đáp ứng được nhu cầu của dòng FDI vào Việt Nam.
Tính ổn định chất lượng sản phẩm, tay nghề lao động và chi phí vận hành… cũng là yếu tố cực kỳ quan trọng, nhất là với các doanh nghiệp trong mảng bán dẫn hoặc những ngành cao hơn.
Câu chuyện về chi phí và tính chính xác trong vận hành, doanh nghiệp Việt Nam có những lợi thế nhất định. Tuy nhiên, vẫn cần đầu tư, cải thiện để xây dựng được hệ thống chuỗi cung ứng tự động hóa và huẩn hóa cao hơn.