Đời sống
Xiếc “Sơn Thần Thủy Quái” và một cách làm mới nghệ thuật truyền thống
Hạnh Phúc - 05/10/2026 07:23
Những hàng ghế kín tại Rạp Xiếc Trung ương cho thấy sức hút của một cách làm mới, nơi công nghệ tham gia vào quá trình sáng tạo nhưng nghệ sĩ, cảm xúc và bản sắc Việt vẫn là trung tâm.

Hơn 1.200 chỗ ngồi của Rạp Xiếc Trung ương liên tục kín kể từ khi “Sơn Thần Thủy Quái” bắt đầu công chiếu ngày 25/9/2026. Một hiện tượng hiếm có của ngành Xiếc Việt Nam, nhưng câu chuyện đáng chú ý phía sau những hàng ghế kín lại nằm ở cách một tích truyện quen thuộc được kể bằng ngôn ngữ sân khấu mới.

Công nghệ trình chiếu tạo nên không gian nghệ thuật số bao quanh sân khấu tròn của Rạp Xiếc Trung ương, góp phần làm mới cách kể câu chuyện truyền thống. Ảnh: BTC cung cấp.

“Sơn Thần Thủy Quái” thực ra không phải câu chuyện hoàn toàn mới với Liên đoàn Xiếc Việt Nam. Cách đây 20 năm, Rạp Xiếc Trung ương từng dàn dựng “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, trong đó NSND Tống Toàn Thắng đảm nhận vai Sơn Tinh. Hai thập niên sau, câu chuyện trở lại trong một diện mạo khác, với sự tham gia của công nghệ số, 3D Mapping, AI đồ họa, sân khấu nước, âm thanh, ánh sáng và nhiều lớp hình ảnh chuyển động.

Điều đáng nói là công nghệ không đứng bên cạnh nghệ thuật như một phần trang trí. Nó được đưa vào quá trình sáng tạo, cùng nghệ sĩ kể lại một câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhìn nhận: “Đổi mới sáng tạo ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch bắt đầu từ rạp xiếc, nhà hát, bảo tàng và trường học, để đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào cuộc sống, phục vụ nhân dân, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của Đất nước”.

Hiệu ứng ánh sáng, nước và chuyển động của nghệ sĩ tạo nên không gian thị giác giàu cảm xúc trong vở xiếc “Sơn Thần Thủy Quái”. Ảnh: BTC cung cấp.

Công nghệ mở rộng sân khấu, con người vẫn là trung tâm

Sau hơn 40 năm làm nghề, NSND Tống Toàn Thắng vẫn giữ quan niệm nghệ thuật muốn tồn tại phải có khả năng vận động cùng đời sống. Với ông, xiếc trước hết vẫn phải là xiếc. Kỹ thuật, sự khổ luyện, độ chính xác, sức mạnh và lòng dũng cảm của nghệ sĩ là những giá trị không thể thay thế.

Nhưng trên nền tảng ấy, không gian sáng tạo có thể mở rộng sang âm nhạc, múa, ánh sáng, công nghệ trình chiếu và những hình thức kể chuyện mới. Điều cốt lõi là tất cả những chất liệu đó phải phục vụ tác phẩm, thay vì biến xiếc thành một cuộc trình diễn công nghệ.

Bởi vậy, những câu chuyện Việt Nam trở thành nguồn chất liệu quan trọng. Thạch Sanh, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Tấm Cám, hình tượng người lính hay con người vùng biên giới đều có thể được kể lại bằng ngôn ngữ xiếc.

“Tôi không muốn xiếc Việt Nam chạy theo những gì thế giới đang làm. Tôi muốn chúng ta học cách làm nghề của thế giới, nhưng kể câu chuyện của chính mình. Đây cũng là cách để xiếc Việt Nam có thể bước ra bên ngoài biên giới. Không phải bằng cách trở thành một phiên bản của sân khấu nước khác, mà bằng việc tạo ra một tiếng nói đủ rõ để khán giả nhận ra bản sắc Việt Nam”, NSND Tống Toàn Thắng chia sẻ.

Sân khấu nước kết hợp hệ thống ánh sáng giúp mở rộng không gian biểu đạt, đưa công nghệ trở thành một phần của ngôn ngữ sân khấu. Ảnh: BTC cung cấp.

Tư duy ấy cũng cho thấy sự chuyển đổi trong vai trò của người nghệ sĩ khi bước sang quản lý nghệ thuật. Sân khấu trở thành không gian làm việc chung của đạo diễn, nghệ sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ sân khấu, kỹ thuật viên và đội ngũ công nghệ. Mỗi thành phần đều tham gia vào một chỉnh thể sáng tạo.

Trong chỉnh thể ấy, NSND Tống Toàn Thắng xác định rất rõ giới hạn của công nghệ. Ông không xem 3D Mapping, ánh sáng, hình ảnh hay công nghệ trình chiếu là đích đến.

“Tôi không đưa công nghệ vào xiếc để làm cho sân khấu ‘hoành tráng’ hơn. Tôi dùng công nghệ để mở thêm khả năng kể chuyện cho xiếc. Công nghệ là phương tiện; nghệ thuật, cảm xúc và con người mới là trung tâm”, NSND Tống Toàn Thắng khẳng định.

Quan điểm này gặp nhau với cách nhìn của Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng. Theo ông, “Khoa học công nghệ và chuyển đổi số không phải là cuộc đua bổ sung những hiệu ứng mới cho sân khấu, mà là thay đổi cách nghĩ, cách làm, cách sáng tạo nghệ thuật, dùng dữ liệu và công nghệ để tạo ra ngôn ngữ biểu diễn mới, để kể câu chuyện nghệ thuật theo cách mới, để nghệ sĩ có thêm công cụ sáng tạo và thăng hoa.”

“Sơn Thần Thủy Quái” cho thấy khá rõ cách tiếp cận này. Nếu công nghệ chỉ tạo một phông nền núi non hay biển cả, giá trị mới dừng ở trang trí. Khi hình ảnh, ánh sáng, nước, âm nhạc và chuyển động của nghệ sĩ cùng tham gia kể chuyện, công nghệ trở thành một phần ngôn ngữ sân khấu.

Những lớp hình ảnh được trình chiếu trên không gian sân khấu, kết hợp với ánh sáng và biểu diễn của nghệ sĩ trong “Sơn Thần Thủy Quái”. Ảnh: BTC cung cấp.

Người nghệ sĩ khi ấy cũng phải thay đổi. Họ không thể chỉ quan tâm động tác khó đến đâu mà còn phải hiểu động tác ấy nằm ở vị trí nào trong tổng thể tác phẩm, kể câu chuyện gì, tạo cảm xúc ra sao và kết nối với khán giả như thế nào. Đó là bước chuyển từ tư duy biểu diễn một tiết mục sang tham gia sáng tạo một tác phẩm.

Phía sau những hiệu ứng sân khấu là một quy trình sản xuất có quy mô đáng kể. Khoảng 40 nghệ sĩ trực tiếp tham gia “Sơn Thần Thủy Quái”; cộng với đội ngũ kỹ thuật và hậu cần, tổng số nhân sự vượt 60 người. Liên đoàn Xiếc Việt Nam cải tạo sân khấu tròn của Rạp Xiếc Trung ương thành sân khấu nước với hệ thống phun gần 300 ống nước và hệ thống thoát nước.

LumiShow và VietArt tham gia với vai trò doanh nghiệp công nghệ số sản xuất visual đồ họa, thực thi không gian nghệ thuật số và xây dựng hệ thống hình ảnh xuyên suốt chương trình.

Các công cụ AI đồ họa được sử dụng để hỗ trợ ê kíp phát triển ý tưởng và thử nghiệm phương án tạo hình. Từ những hình dung ban đầu về núi rừng, biển cả, thế giới thần thoại đến những lớp hình ảnh chuyển động, công nghệ giúp quá trình thử nghiệm nhanh và trực quan hơn. Các phương án phù hợp tiếp tục được chọn lọc, xử lý, kết hợp với hệ thống 3D Mapping để đáp ứng kịch bản, không gian sân khấu và chuyển động của nghệ sĩ.

AI vì thế tham gia ngay từ quá trình hình dung thế giới sân khấu. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng về hình ảnh, nhịp điệu và cách kể chuyện vẫn thuộc về những người làm nghệ thuật.

Âm nhạc cũng trở thành cầu nối giữa các lớp diễn khi Symphonic Pop, World Music, EDM Cinematic được kết hợp với âm hưởng nhạc cụ dân tộc. Trong cuộc đối đầu giữa Đất và Nước, âm nhạc, tiếng sấm, mưa bão, gió, nước và ánh sáng cùng tạo nên cao trào.

Hiệu quả của tác phẩm vì vậy không nằm ở một công nghệ đơn lẻ mà ở khả năng phối hợp nhiều yếu tố thành một chỉnh thể.

Công nghệ cũng đang thay đổi cách sân khấu tìm đến công chúng. NSND Tống Toàn Thắng hướng tới xây dựng những vở diễn có nhân vật, hình ảnh và thế giới gần với game mà giới trẻ quen thuộc rồi chuyển hóa bằng ngôn ngữ xiếc. Khả năng hợp tác với các đơn vị phát triển game tại Việt Nam cũng được tính tới nhằm tìm thêm điểm chạm với thế hệ khán giả mới.

Cùng với đổi mới trên sân khấu, nền tảng vé trực tuyến giúp khán giả tra cứu lịch diễn, chủ động chọn chỗ và thanh toán thuận tiện hơn. Những thay đổi tưởng như thuần túy về vận hành lại giúp các đơn vị nghệ thuật chuyển từ cách bán vé truyền thống sang chủ động kết nối với công chúng.

Kỹ thuật và sự khổ luyện của nghệ sĩ vẫn giữ vai trò trung tâm dù công nghệ ngày càng tham gia sâu vào quá trình sáng tạo sân khấu xiếc. Ảnh: BTC cung cấp.

Từ một vở diễn đến bài toán xây dựng hệ sinh thái

Câu chuyện của “Sơn Thần Thủy Quái” còn đáng chú ý ở phương thức hình thành tác phẩm. Liên đoàn Xiếc Việt Nam, một đơn vị sự nghiệp công lập, phối hợp với doanh nghiệp công nghệ số dưới sự định hướng của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch trong tổng thể phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia phục vụ nghệ thuật biểu diễn.

Ở đó, đơn vị nghệ thuật sở hữu đội ngũ nghệ sĩ, chuyên môn nghề nghiệp, kinh nghiệm dàn dựng và khả năng khai thác chất liệu văn hóa. Doanh nghiệp công nghệ mang đến nền tảng, nhân lực kỹ thuật, năng lực nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm cùng tư duy sáng tạo mới.

Giá trị của mô hình sẽ lớn hơn nếu doanh nghiệp không xuất hiện ở khâu cuối với vai trò cung cấp thiết bị hay thực hiện kỹ xảo, mà tham gia từ lúc hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, thiết kế mỹ thuật, dàn dựng đến hoàn thiện tác phẩm. Khi đó, doanh nghiệp công nghệ trở thành một thành phần của ê kíp sáng tạo.

Đây cũng là gợi mở về quan hệ hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong phát triển nghệ thuật thời đại số. Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo môi trường và bảo đảm mục tiêu văn hóa. Đơn vị nghệ thuật nắm giữ chuyên môn, tác phẩm và các giá trị văn hóa. Doanh nghiệp bổ sung nguồn lực công nghệ, tài chính, năng lực sáng tạo và khả năng tiếp cận thị trường.

Từ hiệu quả của “Sơn Thần Thủy Quái”, bài toán tiếp theo là tạo điều kiện để những mô hình tương tự xuất hiện nhiều hơn.

Điều đó đòi hỏi chuyển từ hỗ trợ từng chương trình riêng lẻ sang kiến tạo môi trường đổi mới sáng tạo trong nghệ thuật, coi công nghệ là một hướng quan trọng để đổi mới phương thức sáng tạo, sản xuất, trình diễn và phổ biến sản phẩm văn hóa. Các chương trình hỗ trợ ứng dụng công nghệ vì thế cần có tầm nhìn dài hạn thay vì đầu tư theo từng sự kiện.

Nghệ thuật xiếc, múa, âm nhạc và sân khấu nước được kết hợp trong “Sơn Thần Thủy Quái”, tạo nên cách tiếp cận mới với câu chuyện mang chất liệu văn hóa truyền thống. Ảnh: BTC cung cấp.

Cơ chế hợp tác giữa các đơn vị nghệ thuật với doanh nghiệp công nghệ cũng cần được mở rộng. Cơ quan quản lý có thể kết nối nhà hát, đoàn nghệ thuật, doanh nghiệp công nghệ, studio sáng tạo, cơ sở đào tạo và chuyên gia để hình thành các dự án liên ngành. Khi đó, công nghệ được lựa chọn theo yêu cầu của tác phẩm, thay vì đưa những công nghệ có sẵn vào sân khấu một cách cơ học.

Cùng với cơ chế đặt hàng là bài toán về quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác tác phẩm, dữ liệu, công nghệ và phân chia doanh thu. Khi công nghệ tham gia ngày càng sâu vào sáng tạo, ranh giới giữa tác phẩm nghệ thuật và giải pháp công nghệ cũng trở nên phức tạp hơn.

Nguồn nhân lực là một mắt xích khác. Những dự án như “Sơn Thần Thủy Quái” cần người có khả năng làm việc giữa các lĩnh vực, nghệ sĩ hiểu công nghệ và người làm công nghệ hiểu ngôn ngữ nghệ thuật. Việc tăng cường hợp tác giữa các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật và công nghệ, hình thành chương trình đào tạo và dự án thực hành liên ngành vì vậy có thể tạo ra một lớp nhân lực mới cho công nghiệp sáng tạo.

Dữ liệu và hạ tầng văn hóa số cũng là nền tảng cần thiết. Khi tư liệu về di sản, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, mỹ thuật, văn hóa dân gian được số hóa, chuẩn hóa và có cơ chế khai thác phù hợp, nghệ sĩ và doanh nghiệp sẽ có thêm nguồn nguyên liệu sáng tạo. Những nền tảng, giải pháp công nghệ có khả năng sử dụng cho nhiều dự án cũng giúp giảm chi phí thử nghiệm và sản xuất.

Từ một vở xiếc, lộ trình được gợi mở là thử nghiệm, hoàn thiện rồi nhân rộng. Nhà nước tạo cơ chế và nguồn lực cho thử nghiệm; đơn vị nghệ thuật và doanh nghiệp cùng hoàn thiện sản phẩm trong thực tế; những mô hình chứng minh được hiệu quả tiếp tục được đầu tư, lưu diễn, chuyển giao và mở rộng.

Xiếc có thể chỉ là điểm bắt đầu. Mô hình này còn có khả năng mở sang chèo, tuồng, cải lương, múa rối, nghệ thuật dân gian, bảo tàng, di sản và nhiều không gian văn hóa khác.

Một vở diễn thành công sẽ có ý nghĩa lớn hơn những đêm kín ghế nếu từ đó hình thành thêm những quan hệ hợp tác, công nghệ, sản phẩm và phương thức tiếp cận mới với nghệ thuật truyền thống.

Và khi ấy, “Sơn Thần Thủy Quái” có thể được nhìn nhận như một phép thử đáng chú ý cho hành trình rộng hơn của nghệ thuật Việt Nam trong thời đại số: từ bảo tồn sang phát triển, từ ứng dụng những công nghệ riêng lẻ sang hình thành hệ sinh thái sáng tạo, để những giá trị văn hóa Việt Nam tiếp tục được kể, được lan tỏa và được công chúng hưởng thụ bằng ngôn ngữ của thời đại.

Tin liên quan
Tin khác