ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với 1,43 triệu tấn, trị giá gần 850 triệu USD, tăng 15,57% về lượng và tăng 13,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
|
| ASEAN là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng năm 2026, kim ngạch gần 850 triệu USD. |
Theo Cục Hải quan, tháng 4/2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 1,03 triệu tấn, trị giá 680 triệu USD, giảm 5,79% về lượng và giảm 4,21% về trị giá so với tháng 4/2025.
4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắt thép của cả nước đạt 3,86 triệu tấn, trị giá 2,48 tỷ USD, tăng 0,7% về lượng và giảm nhẹ 0,5% so với cùng kỳ năm trước.
ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, chiếm 36,92% tỷ trọng trong tổng lượng thép xuất khẩu.
Xuất khẩu sắt thép sang thị trường ASEAN trong 4 tháng đạt 1,43 triệu tấn, trị giá 840,9 triệu USD, tăng 15,57% về lượng và tăng 13,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhu cầu xây dựng hạ tầng,
bất động sản và công nghiệp tại các nước Đông Nam Á phục hồi tích cực. ASEAN tiếp tục đóng vai trò là khu vực “bệ đỡ” cho xuất khẩu thép Việt Nam nhờ lợi thế khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển thấp và ưu đãi thuế quan nội khối.
Xuất khẩu sắt thép sang thị trường EU trong 4 tháng đạt 627,03 nghìn tấn, trị giá 400 triệu USD, giảm 14,55% về lượng và giảm 20,49% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Với mức thực hiện này, EU là khu vực thị trường có mức suy giảm mạnh nhất trong số các thị trường xuất khẩu sắt thép lớn của Việt Nam.
Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ thép tại châu Âu phục hồi chậm do tăng trưởng kinh tế thấp; chi phí năng lượng cao tiếp tục ảnh hưởng tới hoạt động công nghiệp; EU tăng cường kiểm soát nhập khẩu thép và từng bước triển khai cơ chế điều chỉnh carbon biên giới (CBAM); cạnh tranh mạnh từ thép giá rẻ châu Á.
Giá sắt thép xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang EU 4 tháng năm 2026 đạt 636 USD/tấn, giảm 6,95% so với cùng kỳ năm 2025.
Mỹ là thị trường xuất khẩu thép lớn thứ ba của Việt Nam sau ASEAN và EU trong 4 tháng đầu năm 2026, đạt 516,63 nghìn tấn, trị giá 301 triệu USD, tăng 33,19% về lượng và 24,18% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hoạt động
đầu tư hạ tầng và xây dựng tại Mỹ duy trì tích cực; các nhà nhập khẩu Mỹ gia tăng đa dạng hóa nguồn cung ngoài thị trường Trung Quốc; nguồn thép Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá.
Tuy nhiên, rủi ro điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp bảo hộ thương mại của Mỹ vẫn là yếu tố cần đặc biệt lưu ý với một số chủng loại thép của nước ta.
Chỉ dấu tích cực nữa của hoạt động xuất khẩu thép 4 tháng đầu năm 2026 sang một số thị trường mới nổi tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025, nổi bật là Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ với mức tăng lần lượt 43,03% và 189,3% về lượng, cùng với trị giá xuất khẩu tăng 55,22% và 232,7%.
Một số thị trường truyền thống và khu vực phát triển như Đài Loan, Hàn Quốc, Australia, Anh ghi nhận mức giảm đáng kể cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu thép yếu, cạnh tranh gia tăng và các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe, ảnh hưởng đến khả năng duy trì thị phần của thép Việt Nam.