| Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội |
Quốc hội sẽ họp kỳ không thường lệ vào đầu tháng 8 với yêu cầu rất cao về cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh tại các dự án luật. Thưa ông, lĩnh vực nào cần được đặc biệt quan tâm ưu tiên trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng 2 con số của năm nay và các năm tiếp theo đã trở thành “mệnh lệnh”?
Tôi cho rằng, yêu cầu cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh lần này không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt cho doanh nghiệp, mà còn là một bước chuyển mạnh về tư duy xây dựng thể chế. Trong bối cảnh đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức 2 con số trong những năm tới, chúng ta không thể đạt được bằng mô hình cũ thâm dụng lao động, đất đai, tài nguyên, mà động lực phải đến từ năng suất mới, trong đó chìa khóa là thể chế. Hay nói cách khác, cải cách thể chế không còn là một lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết để giải phóng mọi nguồn lực phát triển.
Theo tôi, có 3 nhóm lĩnh vực cần được ưu tiên đặc biệt.
Thứ nhất, là lĩnh vực đầu tư, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là những lĩnh vực tạo ra năng suất mới và động lực tăng trưởng mới. Thực tế, nhiều doanh nghiệp phản ánh thời gian đưa một sản phẩm công nghệ mới ra thị trường còn kéo dài do phải trải qua nhiều thủ tục cấp phép, kiểm định, thử nghiệm ở nhiều cơ quan khác nhau. Trong khi đó, chu kỳ đổi mới công nghệ ngày càng ngắn, nếu thủ tục vẫn theo tư duy quản lý truyền thống thì cơ hội kinh doanh sẽ qua đi trước khi doanh nghiệp được phép triển khai.
Với nhóm này, cần tiếp cận theo hướng “chọn bỏ” và doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm thay vì “chọn cho”. Chúng ta cần chuyển mạnh từ tư duy "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", từ quản lý bằng giấy phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn, dữ liệu và công nghệ số. Những gì doanh nghiệp có thể tự kê khai, tự chịu trách nhiệm thì Nhà nước không nên yêu cầu xin phép nhiều lần.
Thứ hai, là lĩnh vực đầu tư xây dựng, đất đai, môi trường và hạ tầng chiến lược, năng lượng tái tạo. Thực tế cho thấy, có những dự án mất nhiều năm chỉ để hoàn thành thủ tục, dẫn đến chi phí tăng lên rất lớn, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Các dự án điện gió, điện mặt trời, truyền tải đang vướng thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất rừng, đất lúa, quy hoạch, phê duyệt giá điện. Nếu phân cấp triệt để và loại bỏ bước trung gian sẽ khơi thông hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn xã hội. Vì vậy, cần rà soát toàn diện các thủ tục còn chồng chéo, loại bỏ những bước trung gian không cần thiết, đẩy mạnh liên thông giữa các cơ quan và số hóa toàn bộ quy trình giải quyết hồ sơ.
Thứ ba, là lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng hóa, xuất nhập khẩu và logistics. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, thời gian thông quan, kiểm tra chuyên ngành hay cấp chứng nhận chất lượng đều ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp. Việc cắt giảm các thủ tục này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
| Cắt giảm thủ tục hành chính được xem là bước chuyển mạnh về tư duy xây dựng thể chế. Ảnh: Nguyễn Tấn |
Làm thế nào để cắt giảm thủ tục nhưng vẫn bảo đảm sự quản lý của Nhà nước, thưa ông?
Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, cắt giảm thủ tục hành chính không có nghĩa là buông lỏng quản lý, điều quan trọng là phải xác định đúng thủ tục nào thực sự cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sức khỏe cộng đồng và môi trường, còn thủ tục hình thức thì mạnh dạn loại bỏ.
Đặc biệt, việc sửa luật cần bám sát và thực hiện nghiêm nguyên tắc “một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm”. Nếu một thủ tục vẫn phải qua nhiều bộ, nhiều ngành thì dù số hóa đến đâu cũng chưa tạo được đột phá, tất cả hướng tới chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm tối đa chi phí tuân thủ nhưng tuyệt đối không để xảy ra khoảng trống pháp lý. Mục tiêu cuối cùng của cải cách thể chế phải là giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và ổn định. Khi nguồn lực xã hội được giải phóng thì tăng trưởng kinh tế sẽ có thêm dư địa, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Khoa học và công nghệ được coi là động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Được biết, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đang tiến hành thẩm tra một số dự án luật để trình Kỳ họp không thường lệ. Xin ông cho biết những chính sách lớn nào sẽ được sửa tại các luật này để đáp ứng yêu cầu phát triển mới?
Có thể nói, đây là đợt sửa đổi pháp luật với quy mô khá lớn trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Mục tiêu xuyên suốt là thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, đặc biệt là tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời tạo khung khổ pháp lý đủ linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Một trong những nội dung quan trọng là đổi mới phương thức quản lý nhà nước từ kiểm soát quy trình sang quản lý kết quả. Nhiều quy định hiện nay còn nặng về tiền kiểm, yêu cầu doanh nghiệp phải xin phép qua nhiều cấp trước khi triển khai hoạt động. Các dự thảo luật đang được nghiên cứu theo hướng cắt giảm đáng kể các điều kiện kinh doanh không cần thiết, tăng cường phân cấp, phân quyền và áp dụng quản trị số.
Dự kiến, tại Kỳ họp không thường lệ (tháng 8/2026), Chính phủ sẽ trình Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung một số đạo luật theo trình tự rút gọn thuộc lĩnh vực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Đợt sửa lần này không mở rộng phạm vi điều chỉnh, mà tập trung phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh.
Ông có thể thông tin chi tiết hơn về một số sửa đổi tại các luật cụ thể?
Ví dụ như Luật Tần số vô tuyến điện, vướng mắc hiện nay là quy trình cấp phép, đấu giá, gia hạn quyền sử dụng tần số còn kéo dài và qua nhiều khâu, khiến băng tần cho 5G chậm được đưa vào khai thác. Tần số là tài nguyên đầu vào của toàn bộ hạ tầng số, chậm một nhịp ở đây là chậm cả nền kinh tế số. Dự thảo rút ngắn, minh bạch hóa quy trình và phân cấp mạnh hơn, để doanh nghiệp viễn thông sớm có băng tần triển khai hạ tầng thế hệ mới.
Với Luật Viễn thông, vướng mắc là hệ thống giấy phép và điều kiện kinh doanh còn nặng “tiền kiểm”, trong khi khung pháp lý cho trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây chưa đủ rõ, làm nhà đầu tư e ngại. Dự thảo cắt bớt giấy phép con, chuyển sang quản lý theo kết quả và tạo khung minh bạch cho hạ tầng dữ liệu.
Với Luật Giao dịch điện tử, vướng mắc thực tế là giá trị pháp lý của chữ ký số, định danh và xác thực điện tử, hồ sơ điện tử chưa được công nhận đầy đủ và đồng bộ, nên người dân và doanh nghiệp vẫn phải nộp song song bản giấy, ký trực tiếp, đi lại nhiều lần, số hóa mới chỉ “nửa vời”. Dự thảo khẳng định rõ giá trị pháp lý của giao dịch và hồ sơ điện tử, để thủ tục được số hóa thực chất từ đầu đến cuối. Đây chính là xương sống cho cả hành chính số và kinh tế số.
Với Luật Chuyển giao công nghệ, Dự thảo đơn giản hóa đăng ký, làm rõ và minh bạch danh mục, khơi thông cơ chế ưu đãi. Đây là mắt xích để doanh nghiệp dám đầu tư hấp thụ công nghệ, qua đó nâng năng suất các nhân tố tổng hợp.
Hai luật còn lại của đợt này cũng đi thẳng vào nút thắt thủ tục. Nhóm 10 luật nông nghiệp, môi trường xử lý tình trạng chồng lấn và kéo dài của các thủ tục đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, giấy phép tài nguyên nước, khoáng sản, vốn khiến nhiều dự án mất hàng năm chỉ để hoàn tất hồ sơ; hướng sửa là gộp và giảm thủ tục, phân cấp về địa phương, chuyển sang hậu kiểm gắn với số hóa dữ liệu quan trắc.
Luật Kiến trúc tháo gỡ sự chồng chéo, đứt gãy về thẩm quyền sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phân định lại thẩm quyền, phân quyền và đơn giản hóa quy trình để không ách tắc thủ tục ở cơ sở. Điểm xuyên suốt cả 3 luật là chuyển từ quản lý quy trình sang quản lý kết quả, đẩy mạnh phân cấp đi đôi với trách nhiệm giải trình, Trung ương giữ vai trò xây dựng chính sách, tiêu chuẩn và giám sát; địa phương chủ động tổ chức thực hiện.
Từ góc độ cơ quan thẩm tra, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Một quy định dù tiến bộ nhưng nếu mâu thuẫn với luật khác thì khi triển khai vẫn sẽ phát sinh vướng mắc. Vì vậy, cùng với việc sửa từng luật, chúng tôi đồng thời rà soát sự tương thích với các luật liên quan như pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng, môi trường, đất đai, chuyển đổi số... nhằm bảo đảm khi luật được ban hành có thể triển khai ngay trên thực tế. Điều quan trọng nhất là các chính sách sửa đổi lần này phải hướng tới việc tạo lập một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Thời gian chuẩn bị rất gấp, song Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đã yêu cầu không vì thời gian gấp mà hạ thấp yêu cầu về chất lượng. Thưa ông, các cơ quan chủ trì thẩm tra đã đổi mới cách làm như thế nào để đáp ứng được yêu cầu này?
Đúng là khối lượng công việc lần này rất lớn, trong khi thời gian chuẩn bị ngắn hơn nhiều so với thông lệ. Tuy nhiên, quan điểm xuyên suốt của Quốc hội là tiến độ phải đi cùng chất lượng. Không thể vì áp lực thời gian mà ban hành những quy định chưa chín, chưa được đánh giá đầy đủ tác động. Để đáp ứng yêu cầu đó, các cơ quan của Quốc hội, trong đó có Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đã đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc.
Trước hết là tham gia từ rất sớm ngay trong quá trình cơ quan soạn thảo xây dựng chính sách. Thay vì chờ hồ sơ hoàn thiện mới tiến hành thẩm tra, chúng tôi trao đổi thường xuyên với cơ quan chủ trì soạn thảo ngay từ khâu xây dựng đề cương, xác định chính sách lớn, từ đó kịp thời góp ý để hạn chế việc phải chỉnh sửa nhiều ở giai đoạn cuối.
Thứ hai là tăng cường phối hợp liên ngành. Đối với những nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực, Ủy ban tổ chức các cuộc làm việc với nhiều bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia và nhà khoa học, nhằm tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Điều này giúp nâng cao tính khách quan và tính khả thi của các quy định.
Thứ ba là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quá trình thẩm tra. Hồ sơ được số hóa, chia sẻ trên môi trường điện tử; các cuộc họp trực tuyến được tổ chức linh hoạt; việc lấy ý kiến chuyên gia được thực hiện đồng thời ở nhiều địa điểm. Nhờ đó, thời gian xử lý được rút ngắn nhưng chất lượng phản biện vẫn được bảo đảm.
Thứ tư là đổi mới phương pháp thẩm tra theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Chúng tôi không chỉ xem xét quy định đó đúng về mặt pháp lý hay không, mà còn đặt câu hỏi: quy định này có thực sự thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp không; có làm phát sinh thêm chi phí tuân thủ không; có thể thực hiện được trên thực tế hay không. Nếu câu trả lời chưa thuyết phục thì tiếp tục kiến nghị chỉnh sửa.
Một điểm đổi mới nữa là tăng cường rà soát độc lập đối với từng chính sách. Mỗi quy định đều được đối chiếu với chủ trương của Đảng, với Hiến pháp, với các luật hiện hành và với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia. Đồng thời, chúng tôi đặc biệt chú trọng đánh giá tác động về kinh tế, xã hội, môi trường và khả năng tổ chức thực hiện sau khi luật được ban hành.
Tôi cũng cho rằng, chất lượng của luật không chỉ được quyết định bởi chất lượng của văn bản, mà còn bởi khả năng đi vào cuộc sống. Vì vậy, ngay trong quá trình thẩm tra, các cơ quan của Quốc hội đã yêu cầu cơ quan soạn thảo chuẩn bị đồng thời các văn bản hướng dẫn thi hành, xây dựng lộ trình triển khai và chuẩn bị các điều kiện về nguồn lực, cơ sở dữ liệu, nhân lực để khi luật có hiệu lực là có thể thực hiện ngay, tránh tình trạng “luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư”.
Có thể nói, áp lực thời gian lần này cũng là cơ hội để đổi mới phương thức xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, khoa học và hiện đại hơn. Điều quan trọng nhất là mọi sửa đổi đều phải hướng tới mục tiêu chung: xây dựng một hệ thống pháp luật ổn định, minh bạch, dễ thực hiện, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp. Chúng tôi kiên trì bám sát phương châm của Nghị quyết 66-NQ/TW: “Thể chế phải kiến tạo, đi trước, mở đường cho phát triển”, lấy lợi ích của người dân và sự cất cánh của doanh nghiệp làm thước đo năng lực cuối cùng của cơ quan lập pháp. Đó cũng là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng.
Thời gian chuẩn bị rất gấp, song Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đã chỉ đạo không vì thời gian gấp mà hạ thấp chất lượng. Thưa ông, các cơ quan chủ trì thẩm tra đã đổi mới cách làm như thế nào để đáp ứng được yêu cầu này?
Đúng là khối lượng công việc lần này rất lớn, trong khi thời gian chuẩn bị ngắn hơn nhiều so với thông lệ. Tuy nhiên, quan điểm xuyên suốt của Quốc hội là tiến độ phải đi cùng chất lượng. Không thể vì áp lực thời gian mà ban hành những quy định chưa chín, chưa được đánh giá đầy đủ tác động. Để đáp ứng yêu cầu đó, các cơ quan của Quốc hội, trong đó có Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đã đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc.
Trước hết là tham gia từ rất sớm ngay trong quá trình cơ quan soạn thảo xây dựng chính sách. Thay vì chờ hồ sơ hoàn thiện mới tiến hành thẩm tra, chúng tôi trao đổi thường xuyên với cơ quan chủ trì soạn thảo ngay từ khâu xây dựng đề cương, xác định chính sách lớn, từ đó kịp thời góp ý để hạn chế việc phải chỉnh sửa nhiều ở giai đoạn cuối.
Thứ hai là tăng cường phối hợp liên ngành. Đối với những nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực, Ủy ban tổ chức các cuộc làm việc với nhiều bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia và nhà khoa học, nhằm tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Điều này giúp nâng cao tính khách quan và tính khả thi của các quy định.
Thứ ba là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quá trình thẩm tra. Hồ sơ được số hóa, chia sẻ trên môi trường điện tử; các cuộc họp trực tuyến được tổ chức linh hoạt; việc lấy ý kiến chuyên gia được thực hiện đồng thời ở nhiều địa điểm. Nhờ đó, thời gian xử lý được rút ngắn nhưng chất lượng phản biện vẫn được bảo đảm.
Thứ tư là đổi mới phương pháp thẩm tra theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Chúng tôi không chỉ xem xét quy định đó đúng về mặt pháp lý hay không, mà còn đặt câu hỏi: quy định này có thực sự thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp không; có làm phát sinh thêm chi phí tuân thủ không; có thể thực hiện được trên thực tế hay không. Nếu câu trả lời chưa thuyết phục thì tiếp tục kiến nghị chỉnh sửa.
Một điểm đổi mới nữa là tăng cường rà soát độc lập đối với từng chính sách. Mỗi quy định đều được đối chiếu với chủ trương của Đảng, với Hiến pháp, với các luật hiện hành và với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia. Đồng thời, chúng tôi đặc biệt chú trọng đánh giá tác động về kinh tế, xã hội, môi trường và khả năng tổ chức thực hiện sau khi luật được ban hành.
Tôi cũng cho rằng, chất lượng của luật được quyết định bởi khả năng đi vào cuộc sống. Vì vậy, ngay trong quá trình thẩm tra, các cơ quan của Quốc hội đã yêu cầu cơ quan soạn thảo chuẩn bị đồng thời các văn bản hướng dẫn thi hành, xây dựng lộ trình triển khai và chuẩn bị các điều kiện về nguồn lực, cơ sở dữ liệu, nhân lực để khi luật có hiệu lực là có thể thực hiện ngay, tránh tình trạng “luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư”.
Có thể nói, áp lực thời gian lần này cũng là cơ hội để đổi mới phương thức xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, khoa học và hiện đại hơn, hướng tới mục tiêu chung: xây dựng một hệ thống pháp luật ổn định, minh bạch, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo...