Phát triển bền vững
Bao bì thực phẩm: Xanh chưa đủ, còn phải an toàn và đúng luật
Anh Hoa - 28/10/2026 16:10
Hộp sữa ghi “thân thiện môi trường” chưa chắc đã an toàn. Bao bì xanh còn phải qua bài kiểm tra của luật và của thực phẩm.

Trên kệ siêu thị, hộp sữa in dòng chữ “thân thiện môi trường” và chai nước dán nhãn “có thể tái chế” dễ tạo thiện cảm. Nhưng vật liệu tiếp xúc với thực phẩm mỗi ngày ấy có an toàn hay không, và doanh nghiệp đã đủ căn cứ để tuyên bố như vậy chưa, lại là chuyện khác.

Câu hỏi này được đặt ra rõ nét tại các hội thảo về bao bì và an toàn thực phẩm sáng nay tại Hà Nội. Người bàn về vật liệu mới theo hướng kinh tế tuần hoàn, người bàn về công nghệ chế biến, đóng gói. Ths.Bs. Nguyễn Văn Nhiên, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn thực phẩm Việt Nam  (Vinafosa), nguyên Phó Chánh Thanh tra Bộ Y tế, nhìn từ góc pháp lý: bao bì là một mắt xích của an toàn thực phẩm, và sai ở mắt xích này, doanh nghiệp phải trả giá.

Vật liệu tốt vẫn có thể không phù hợp

Luật An toàn thực phẩm quy định bao gói và vật liệu tiếp xúc trực tiếp không được gây ô nhiễm hay thôi nhiễm vào thực phẩm. Câu chữ ngắn, nhưng áp dụng không đơn giản. Bao bì dùng ổn cho hàng khô chưa chắc hợp với thực phẩm nhiều dầu mỡ, có tính axit hoặc rót nóng.

Nhiệt độ, thời gian tiếp xúc và điều kiện bảo quản đều quyết định việc các chất hóa học có di chuyển sang thực phẩm hay không. Với bao bì nhiều lớp, nguy cơ có thể nằm ở keo dán, mực in, lớp phủ, những thứ không chạm vào thực phẩm nhưng vẫn có thể thấm qua các lớp vật liệu.

Các loại thực phẩm đóng sẵn như đậu đen, cà chua, ngô ngọt, nấm, quýt được đựng trong hộp giấy thay cho lon kim loại truyền thống. Ảnh: Vinafosa

Việt Nam đã có quy chuẩn riêng cho từng nhóm vật liệu, từ nhựa, cao su, kim loại đến thủy tinh, gốm, sứ (QCVN 12-1 đến 12-4). Doanh nghiệp phải chọn đúng quy chuẩn theo vật liệu và công năng, đồng thời theo dõi các văn bản sửa đổi.

Nhựa tái chế cho thấy độ khó của bài toán. Nó giúp giảm nhựa nguyên sinh nhưng không mặc nhiên dùng được cho thực phẩm: chất lượng đầu vào, lịch sử sử dụng, quy trình làm sạch và kiểm soát tạp chất đều ảnh hưởng đến sản phẩm cuối. Ông Phạm Thế Quyền, Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Tập đoàn TH, cũng nhấn mạnh cần hoàn thiện tiêu chuẩn cho vật liệu sinh học và siết kiểm soát với vật liệu tái chế tiếp xúc trực tiếp thực phẩm.

Máy móc hiện đại không thay được khâu kiểm soát

Bao bì đạt chuẩn chưa chắc đã cho ra thực phẩm an toàn. Theo đại diện Tetra Pak Việt Nam, an toàn là bài toán của cả chuỗi: chế biến, vật liệu, chiết rót, bao bì thành phẩm, phân phối. Với công nghệ xử lý nhiệt độ cao trong thời gian ngắn (UHT), nhiệt độ và thời gian phải cân giữa khả năng diệt vi sinh vật và mức biến đổi của sản phẩm. Sau đó, một mối hàn không kín có thể khiến toàn bộ công đoạn phía trước thành công cốc.

Tốc độ cũng không đồng nghĩa với an toàn. Máy rót E3 được giới thiệu với công suất tới 40.000 hộp mỗi giờ, nhưng con số ấy chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp còn kiểm soát được thông số vận hành, vệ sinh thiết bị, tỷ lệ lỗi và khả năng truy xuất. Đây là giải pháp do một nhà cung cấp giới thiệu, hiệu quả thực tế còn tùy từng nhà máy. Chính phần đại diện của Vinafosa cũng lưu ý: công nghệ hiện đại chỉ giảm được rủi ro khi được chọn, vận hành và kiểm soát đúng.

Để doanh nghiệp tự soi mình, ông Nhiên đưa ra 30 tình huống rủi ro pháp lý khi dùng bao bì, chia sáu nhóm. Có tình huống nằm ở kỹ thuật, như bao bì nhiễm chất độc hại hay độ kín không bảo đảm. Có tình huống nằm trên giấy tờ, như hồ sơ tự công bố không khớp vật liệu thực tế, hoặc đổi nhà cung cấp, đổi cấu trúc bao bì mà không đánh giá lại. Có tình huống nằm ngay trên nhãn: quảng bá “xanh”, “tái chế được” khi thiếu căn cứ. Cuối cùng là nghĩa vụ trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), từ tái chế, đóng góp tài chính đến kê khai, báo cáo.

Theo ông Nhiên, các danh mục này chính là công cụ quản trị rủi ro, không phải bảng liệt kê vi phạm. Chỉ khi xác định đúng nghĩa vụ, chủ thể, hành vi và điều khoản mới có thể kết luận vi phạm. Nhà sản xuất bao bì, doanh nghiệp sử dụng bao bì và đơn vị nhập khẩu cũng chịu nghĩa vụ khác nhau.

Khi đã thành vi phạm, cái giá không nhỏ. Theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 124/2021/NĐ-CP), dùng bao bì tiếp xúc trực tiếp không đáp ứng quy chuẩn bị phạt 20 - 40 triệu đồng với tổ chức; nếu bao bì chứa hoặc nhiễm chất độc hại, mức phạt là 40 - 60 triệu đồng. Ngoài ra còn có thể bị đình chỉ hoạt động từ một đến ba tháng, buộc tái chế hoặc tiêu hủy vật liệu vi phạm, thu hồi sản phẩm, bồi thường, thậm chí trách nhiệm hình sự khi đủ yếu tố. Đáng chú ý, không cần xảy ra ngộ độc mới bị xử phạt về bao bì.

Ngoài ra, Nghị định 37/2026/NĐ-CP và Thông tư 30/2026/TT-BYT điều chỉnh ghi nhãn. Nghị định 110/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ 25/5/2026, cùng Thông tư 24/2026/TT-BNNMT quy định trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu. Với hàng xuất khẩu, quy định bao bì của EU (Regulation (EU) 2025/40) bắt đầu áp dụng từ 12/8/2026 theo lộ trình, và yêu cầu cụ thể còn phụ thuộc từng loại bao bì, sản phẩm.

“Xanh” là lời hứa cần bằng chứng

Mỗi hướng chuyển đổi xanh đều có vế sau. Bao bì đơn vật liệu dễ tái chế hơn nhưng vẫn phải chống ẩm, chống oxy. Vật liệu sinh học có nguồn gốc tái tạo chưa chắc phân hủy trong mọi môi trường. Giấy nhiều lớp phủ có thể rất khó tái chế. Mô hình dùng lại chỉ hiệu quả khi có hệ thống thu hồi và làm sạch. Phần của Vinafosa nhắc một điều tưởng nhỏ mà then chốt: tái chế được về kỹ thuật không có nghĩa là đã được thu gom và tái chế trên thực tế.

TH cho biết đã cùng sáng lập liên minh PRO Vietnam, dùng túi, thìa từ vật liệu sinh học và giảm trọng lượng màng co, mác chai. Các doanh nghiệp bao bì cũng giới thiệu sáng kiến thu gom vỏ hộp giấy. Tất cả là thông tin do doanh nghiệp tự nêu; muốn đánh giá tác động thật, cần thêm số liệu về lượng vật liệu giảm được, tỷ lệ thu hồi và chi phí trên mỗi sản phẩm.

Vinafosa đề xuất doanh nghiệp bắt đầu từ thiết kế: chọn nhà cung cấp có khả năng truy xuất, xác định đúng quy chuẩn theo vật liệu, đánh giá thôi nhiễm theo thực phẩm, nhiệt độ và thời gian sử dụng thực tế. Khi vận hành, trọng tâm là kiểm soát mọi thay đổi về nguyên liệu, cấu trúc, nhà cung cấp, truy xuất theo lô và có sẵn quy trình thu hồi. Quyết định đổi bao bì vì thế không thể chỉ thuộc về bộ phận mua hàng. Nghiên cứu phát triển, chất lượng, sản xuất, pháp chế và môi trường cần ngồi cùng bàn.

Vẫn còn những câu hỏi mở. Quy chuẩn cho vật liệu sinh học và nhựa tái chế đã đủ rõ chưa? Chi phí kiểm nghiệm mỗi lần đổi vật liệu sẽ đè lên doanh nghiệp nhỏ và vừa ra sao? Người tiêu dùng kiểm chứng nhãn “xanh” bằng cách nào khi thông tin chủ yếu do nhà sản xuất cung cấp? Và hạ tầng thu gom đã sẵn sàng cho những thiết kế “dễ tái chế” chưa? Mỗi bên có thể có đáp án riêng, và chính sự khác biệt ấy giúp chính sách sát thực tiễn hơn.

Với ông Nhiên, đầu tư cho bao bì an toàn là đầu tư cho phát triển bền vững. Còn nếu thiếu vật liệu phù hợp, hồ sơ đầy đủ và cơ chế thu hồi sau tiêu dùng, “xanh” mới chỉ là một dòng chữ trên nhãn.

Tin liên quan
Tin khác