Ba năm sau, khối u phát triển và được xác định là ung thư vòng 1 giai đoạn III. Các bác sỹ cảnh báo đây là hậu quả đáng tiếc của việc bỏ lỡ "thời gian vàng" trong chẩn đoán và điều trị.
Mới đây, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC tiếp nhận bà T.D.X. (68 tuổi, Hà Nội) đến khám trong tình trạng khối u lớn ở ngực trái đã gây biến dạng hoàn toàn vùng ngực.
| undefined |
Khai thác tiền sử bệnh cho thấy, năm 2022, bà từng được phẫu thuật bóc u vú trái và kết quả giải phẫu bệnh xác định là tổn thương lành tính. Tuy nhiên, chỉ một năm sau, trong lần tái khám, các bác sỹ tiếp tục phát hiện một khối u mới tại vú trái.
Qua thăm khám và các xét nghiệm chuyên sâu, tổn thương được phân loại BIRADS 4, nhóm có mức độ nghi ngờ ác tính và cần sinh thiết để xác định bản chất. Mặc dù được bác sỹ tư vấn thực hiện ngay thủ thuật này, người bệnh lại không tuân thủ vì cho rằng khối u không gây đau đớn hay ảnh hưởng đến sức khỏe.
Suốt ba năm tiếp theo, khối u tiếp tục phát triển nhưng diễn biến âm thầm. Người bệnh không cảm thấy đau, không chảy máu, ăn uống và cân nặng vẫn bình thường nên càng chủ quan, không quay lại bệnh viện kiểm tra.
Chỉ đến khi khối u phát triển quá lớn, gây vướng víu trong sinh hoạt và hạn chế vận động, bà mới quyết định đi khám. Tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC, các bác sỹ ghi nhận vú phải hoàn toàn bình thường. Trong khi đó, vú trái đã biến dạng rõ rệt với khối u khổng lồ kích thước khoảng 15 x 15 cm. Bề mặt khối u có màu đỏ sẫm, mật độ chắc, xuất hiện nhiều nang hốc cùng hệ thống mạch máu tăng sinh dày đặc.
Các kết quả chẩn đoán hình ảnh tiếp tục cho thấy tổn thương đã tiến triển ở giai đoạn nặng. Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) xác định khối u hỗn hợp có kích thước khoảng 121 x 86 x 115 mm, chiếm gần ba phần tư thể tích mô vú trái. Khối u gây co kéo núm vú, xâm lấn da và cơ ngực lớn, được phân loại BIRADS 5, mức độ rất cao nghi ngờ ác tính.
Kết quả giải phẫu bệnh sau đó xác định người bệnh mắc carcinoma ống xâm nhập, thể ung thư vú phổ biến nhất hiện nay. Đáng chú ý, khối u có HER2 (+++), đây là dấu ấn sinh học cho thấy bệnh có xu hướng tiến triển nhanh. Tuy nhiên, với sự phát triển của y học hiện đại, nhóm bệnh nhân này đã có nhiều cơ hội điều trị bằng các thuốc điều trị đích giúp cải thiện tiên lượng.
Bên cạnh đó, xét nghiệm ghi nhận chỉ số dấu ấn ung thư CA 15-3 tăng lên 233 U/mL, phù hợp với tình trạng bệnh đã tiến triển. Từ các kết quả lâm sàng và cận lâm sàng, các bác sỹ chẩn đoán người bệnh mắc ung thư vú trái giai đoạn III và tư vấn chuyển điều trị chuyên sâu tại chuyên khoa ung bướu.
Theo các chuyên gia, đây là trường hợp đáng tiếc bởi tổn thương nghi ngờ ác tính đã được phát hiện từ rất sớm nhưng người bệnh lại bỏ lỡ cơ hội chẩn đoán xác định và điều trị ngay từ giai đoạn đầu.
Nếu sinh thiết được thực hiện đúng thời điểm, khối u có thể được phát hiện ở giai đoạn sớm hơn, giúp việc điều trị đơn giản hơn, tỷ lệ bảo tồn tuyến vú cao hơn và tiên lượng sống cũng tốt hơn rất nhiều.
BSCKI Nguyễn Thị Thùy Linh, chuyên khoa Sản, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC cho biết, ung thư vú hiện là bệnh ung thư có số ca mắc mới cao nhất ở nữ giới Việt Nam.
Theo số liệu GLOBOCAN 2022, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 24.600 ca mắc mới ung thư vú, chiếm gần 29% tổng số ca ung thư ở phụ nữ. Đồng thời, căn bệnh này cũng là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu với hơn 10.000 ca tử vong mỗi năm.
Theo bác sỹ Linh, tuổi tác là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Nguy cơ mắc ung thư vú tăng dần theo tuổi và đặc biệt cao ở phụ nữ trên 40 tuổi, phổ biến nhất trong nhóm từ 50 đến 69 tuổi.
Ngoài tuổi tác, yếu tố di truyền cũng đóng vai trò đáng kể. Những phụ nữ mang đột biến gen BRCA1, BRCA2 hoặc có mẹ, chị gái, em gái mắc ung thư vú; gia đình có người mắc ung thư buồng trứng, ung thư vòi trứng hoặc ung thư phúc mạc đều thuộc nhóm nguy cơ cao.
Bên cạnh đó, phụ nữ từng mắc các bệnh lý tuyến vú như u vú lành tính hoặc đã điều trị ung thư vú cũng cần được theo dõi định kỳ bởi nguy cơ tái phát hoặc xuất hiện tổn thương mới luôn hiện hữu.
Việc tiếp xúc với estrogen trong thời gian dài như có kinh sớm, mãn kinh muộn hoặc sử dụng liệu pháp hormone thay thế kéo dài cũng được xem là yếu tố làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.
Ngoài ra, béo phì, mật độ mô vú dày, từng xạ trị vùng trung thất hay một số yếu tố chủng tộc cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Các bác sỹ nhấn mạnh, phần lớn trường hợp ung thư vú ở giai đoạn đầu không có triệu chứng rõ rệt. Nhiều khối u không gây đau nên rất dễ khiến người bệnh chủ quan. Chính vì vậy, việc phát hiện sớm thông qua tầm soát định kỳ có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả điều trị.
BSCKI Nguyễn Thị Thùy Linh khuyến cáo, phụ nữ cần chủ động tầm soát ung thư vú bằng các phương pháp phù hợp với từng độ tuổi và nhóm nguy cơ.
Trong đó, chụp nhũ ảnh (Mammography) là phương pháp sàng lọc đầu tay, được khuyến cáo thực hiện định kỳ từ 40 tuổi trở lên. Siêu âm tuyến vú giúp đánh giá các tổn thương, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày. Cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú được chỉ định cho nhóm nguy cơ cao hoặc những trường hợp cần khảo sát chuyên sâu. Việc kết hợp khám lâm sàng với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh sẽ giúp phát hiện sớm những bất thường ngay khi khối u còn rất nhỏ.
Các chuyên gia cũng lưu ý, bất kỳ tổn thương nào được phân loại BIRADS 4 hoặc BIRADS 5 đều cần được sinh thiết theo chỉ định của bác sỹ. Việc trì hoãn hoặc bỏ qua các khuyến cáo chuyên môn có thể khiến bệnh tiến triển sang giai đoạn muộn, làm giảm cơ hội điều trị hiệu quả và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiên lượng sống của người bệnh.