| Vốn đầu tư nước ngoài được xem là một trong những nền tảng phát triển của đất nước. Ảnh: Đức Thanh |
Bước chuyển chiến lược
Sau nhiều chờ đợi, Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chính thức được Bộ Chính trị ban hành. Một nghị quyết mà theo GS-TSKH. Nguyễn Mại, Chủ tịch danh dự Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, là rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới.
“Nghị quyết số 10-NQ/TW ra đời đúng thời điểm, tạo cơ sở chính trị quan trọng để Quốc hội và Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư và xây dựng mô hình hợp tác đầu tư nước ngoài phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới”, GS-TSKH. Nguyễn Mại nói.
Thực tế, Bộ Chính trị đã từng ban hành một nghị quyết riêng về đầu tư nước ngoài. Nhưng đó là nghị quyết về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 (Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019), tức là hướng nhiều hơn đến việc làm sao để thu hút vốn, để nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài. Còn bây giờ là nghị quyết về “phát triển khu vực đầu tư nước ngoài”, với tầm nhìn chiến lược cao hơn.
Đặt bên cạnh 2 nghị quyết là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, càng thấy vai trò, vị thế của khu vực đầu tư nước ngoài được khẳng định mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Nghị quyết số 10-NQ/TW khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, được đối xử bình đẳng. Đầu tư nước ngoài cũng được xác định không chỉ là kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường...
Hơn thế, Nghị quyết số 10-NQ/TW chỉ ra rằng, trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được “đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước”.
Từ tầm nhìn như vậy, đã có một bước chuyển chiến lược trong tư duy về đầu tư nước ngoài. Điều này được ông Trần Văn, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, đánh giá cao. Theo ông Trần Văn, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đánh dấu “một bước ngoặt mang tính chiến lược”, thay đổi toàn diện phương thức và tư duy thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn mới.
“Những vấn đề cốt lõi nhất của nghị quyết này nằm ở sự chuyển dịch tư duy chiến lược, hệ sinh thái đầu tư và các mục tiêu định lượng cụ thể”, ông Trần Văn bày tỏ.
Không quá khó để nhận ra những sự chuyển dịch chiến lược này. Đó là chuyển mạnh từ tư duy “chủ yếu thu hút vốn” sang tư duy “phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia”; chuyển từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng... làm tiêu chí chủ yếu và chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết.
Nâng chất dòng đầu tư, nâng chất nền kinh tế
Nếu đã chuyển mạnh từ tư duy “chủ yếu thu hút vốn” sang tư duy “phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia”, hẳn nhiên định hướng, mục tiêu cụ thể mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra cũng sẽ khác.
Bên cạnh các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như nằm trong nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh; thu hút 40-50 tỷ USD vốn đăng ký mỗi năm, vốn thực hiện đạt 30-40 tỷ USD/năm..., Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng đặt ra rất nhiều mục tiêu tham vọng khác. Chẳng hạn, 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; nâng tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực lên 45-50%; có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia..
Một số lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài cũng đã được xác định cụ thể. Đó là công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và chuỗi khối; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến và công nghiệp xanh; logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng, dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao... Không chỉ vậy, mục tiêu còn là có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam.
Thông điệp đã rất rõ ràng: Mục tiêu không chỉ là thu hút 200 - 300 tỷ USD trong giai đoạn 2026 - 2030, mà còn là lựa chọn những dòng vốn có khả năng tạo ra công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Gần 40 năm qua, Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư hàng đầu trong khu vực. Những năm gần đây, Việt Nam đã được nhiều tập đoàn toàn cầu lựa chọn là “cứ điểm” sản xuất, từ Samsung, Intel, Hanamicron, Goertek, Foxconn... Những khoản đầu tư này đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam bước lên nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng khi mô hình tăng trưởng giai đoạn tới được xác định là phải dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo..., việc chuyển trọng tâm thu hút đầu tư nước ngoài sang các lĩnh vực công nghệ chiến lược càng cần được đẩy mạnh hơn.
“Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ là định hướng phát triển đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà còn là một phần trong chiến lược tái cấu trúc mô hình tăng trưởng quốc gia”, ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài nói.
Không quá khó để nhận ra, những lĩnh vực được ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài cũng chính là những lĩnh vực có thể mang tới các động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới. Thực hiện thành công định hướng này sẽ không chỉ giúp Việt Nam nâng cao chất lượng dòng đầu tư, mà còn “nâng chất” nền kinh tế.
Mấu chốt là thực thi
Các mục tiêu là đầy tham vọng, ông Phan Hữu Thắng cho rằng, hoàn toàn có cơ sở đạt được nếu được triển khai bằng các giải pháp đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả.
Đã có 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được đặt ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW. Trong đó có nhóm nhiệm vụ chung; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; nhóm nhiệm vụ về thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ, tăng tính lan tỏa, liên kết với khu vực kinh tế trong nước; nhóm nhiệm vụ về đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; hay nhóm nhiệm vụ về nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài...
Liên quan đến nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định tiếp tục hoàn thiện đồng bộ, thống nhất hệ thống pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao...; đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án; hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược; áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu; thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do...