| Ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) trình bày về thương mại Việt - Mỹ. |
Thương mại Việt - Mỹ mỏ rộng sang các lĩnh vực mới
Tại Hội thảo “Thị trường Mỹ 2026: Cơ hội, thách thức và các giải pháp đột phá cho doanh nghiệp Việt Nam”, sáng 25/9, ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), đánh giá quan hệ kinh tế Việt - Mỹ đã trải qua chặng đường phát triển mạnh mẽ, với nhiều dấu mốc quan trọng.
Dấu mốc đầu tiên khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao năm 1995. Năm 2000, Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ được ký kết, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy thương mại giữa hai nước.
Tiếp đó, vào năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hai nước thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013 và nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023.
Cùng với quá trình nâng cấp quan hệ song phương, thương mại song phương cũng tăng trưởng nhanh cả về quy mô và mức độ gắn kết. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng từ khoảng 450 triệu USD năm 1995 lên 172,5 tỷ USD vào cuối năm 2025, tức tăng trên 380 lần.
Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam ngày càng giữ vị trí quan trọng trong quan hệ thương mại của Mỹ tại ASEAN.
Ở giai đoạn phát triển mới, khi quan hệ kinh tế giữa hai nước đang chuyển sang giai đoạn hợp tác sâu rộng hơn, ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng sang các lĩnh vực đầu tư, công nghệ và chuỗi cung ứng, qua đó tạo thêm những động lực mới cho quan hệ kinh tế song phương.
Công nghệ cao và bán dẫn được xác định là một trong những lĩnh vực có tiềm năng lớn. Việt Nam đã có nền tảng trong sản xuất điện tử và đang chú trọng phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao, trong khi Mỹ sở hữu nhiều doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong thiết kế chip, thiết bị bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện toán và các công nghệ nền tảng.
"Cơ hội với doanh nghiệp Việt tại thị trường Mỹ trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở việc gia tăng lượng hàng xuất khẩu, mà phải chuyển từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao giá trị. Những nhóm hàng có nhiều tiềm năng gồm điện tử, máy móc, thiết bị, đồ gỗ, dệt may, giày dép, thực phẩm, nông sản và các sản phẩm xanh", ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh.
Để thương mại song phương bền vững, theo ông Hải, Việt Nam đẩy mạnh nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ số, chất bán dẫn, thiết bị hàng không, năng lượng, nguyên liệu và nông sản Mỹ.
Việc đưa nguồn nguyên liệu, công nghệ và thiết bị từ Mỹ vào sản xuất trong nước không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng, mà còn góp phần phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi xanh và tạo ra các sản phẩm có chất lượng, giá trị cao hơn.
Bên cạnh thương mại hàng hóa truyền thống, dư địa hợp tác Việt - Mỹ còn được mở rộng sang những lĩnh vực mới như bán dẫn, sản phẩm số và trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng xanh, hàng không, logistics, sản xuất tự động, nông nghiệp - thực phẩm, giáo dục và y tế.
Kiểm soát chặt xuất xứ hàng hóa
Thương mại Việt - Mỹ còn nhiêu dư địa tăng trưởng, song thách thức với các nhà xuất khẩu nội địa hiện nay không chỉ nằm ở thuế quan mà còn ở hệ thống quy định phi thuế quan ngày càng chặt chẽ.
Chia sẻ tại hội thảo, các chuyên gia cho rằng, chính sách thương mại của Mỹ ngày càng gắn với các yếu tố như thương mại đối ứng, cân bằng thương mại, an ninh kinh tế, thúc đẩy sản xuất trong nước và bảo đảm an toàn chuỗi cung ứng. Từ năm 2025, 2 nước đã bước vào khuôn khổ đàm phán mới về thương mại đối ứng, hướng tới xây dựng quan hệ thương mại công bằng và cân bằng hơn.
Vì vậy, xuất xứ không còn là vấn đề chỉ được xử lý tại thời điểm xuất khẩu, mà cần được kiểm soát xuyên suốt từ nguồn nguyên liệu đến toàn bộ quá trình sản xuất. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường quản trị chuỗi cung ứng, minh bạch hóa nguồn nguyên liệu và xây dựng hệ thống hồ sơ, dữ liệu đủ khả năng truy xuất, chứng minh xuất xứ khi cần thiết.
Trước những yêu cầu ngày càng cao của thị trường Mỹ về tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, xuất xứ và phòng vệ thương mại, doanh nghiệp Việt Nam chủ động quản trị rủi ro ngay từ đầu nhằm đảm bảo minh bạch chuỗi cung ứng, đầu tư cho hệ thống truy xuất nguồn gốc và quản trị dữ liệu; chủ động tìm hiểu các quy định của Mỹ trước khi ký hợp đồng và xây dựng hệ thống kế toán, lưu trữ hồ sơ đầy đủ để sẵn sàng khi có các vụ việc phòng vệ thương mại.