| Ngành ngân hàng đang kích hoạt cuộc cải cách lớn, nắn lại dòng tiền, tối ưu hóa vận hành (Ảnh: Dũng Minh) |
Làm mới "cỗ máy bơm vốn"
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến hết tháng 7/2026, quy mô tín dụng toàn hệ thống là 20,3 triệu tỷ đồng. Như vậy, trong 7 tháng đầu năm, hệ thống ngân hàng đã bơm ra nền kinh tế hơn 1,7 triệu tỷ đồng vốn mới.
Trong suốt nhiều năm qua, ngân hàng vẫn là cỗ máy bơm vốn chính cho nền kinh tế. Chỉ tính riêng trong 5 năm qua, quy mô tín dụng bơm ra nền kinh tế đã tăng gấp đôi (từ hơn 10 triệu tỷ đồng lên hơn 20 triệu tỷ đồng), đồng nghĩa khoảng 10 triệu tỷ đồng vốn mới đã được bơm ra nền kinh tế. Mặc dù vốn ngân hàng được ồ ạt bơm ra, song nền kinh tế vẫn luôn trong trạng thái thiếu vốn. Việc dòng tín dụng chảy quá nhiều vào bất động sản đã sinh ra hiệu ứng lấn át, khiến nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thường xuyên khát vốn.
Để phục vụ nhu cầu vốn tăng mạnh cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số, theo PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên cao cấp Trường đại học Kinh tế TP.HCM, trong giai đoạn tới, mục tiêu của ngành ngân hàng không chỉ là bơm vốn ra nền kinh tế, mà quan trọng không kém là phải tập trung dòng vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, hệ thống ngân hàng sẽ phải cân bằng 3 mục tiêu lớn là hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.
Tương tự, ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch HĐQT ACB cũng cho rằng, vấn đề căn cơ nhất hiện nay là làm thế nào để dòng vốn được khơi thông và đi đúng vào khu vực tạo ra giá trị, tạo thêm động lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đẩy nhanh xử lý nợ và giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc, đồng thời chủ động xây dựng hành lang cho những động lực tăng trưởng mới như tài sản số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
“Trong một thế giới đang thay đổi rất nhanh, dư địa tăng trưởng của Việt Nam sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, chất lượng thể chế và năng lực đổi mới của cả nền kinh tế. Khi dòng vốn, công nghệ và chính sách cùng được kết nối đúng hướng, hệ thống tài chính sẽ không chỉ đóng vai trò cung ứng vốn, mà có thể trở thành một trong những hạ tầng chiến lược kiến tạo tăng trưởng quốc gia”, ông Trần Hùng Huy khẳng định.
Thực tế, từ đầu năm đến nay, NHNN đã có nhiều giải pháp hỗ trợ thanh khoản như nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%; liên tục nới tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn huy động của ngân hàng khi tính tỷ lệ LDR; bơm, hút nhịp nhàng trên kênh OMO (nghiệp vụ thị trường mở)…
Cùng với mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại, NHNN cũng có nhiều biện pháp để gián tiếp “nới room” tín dụng như không tính phần dư nợ cho vay tăng thêm đối với nhà ở xã hội và khu công nghiệp, khu chế xuất vào tổng dư nợ tín dụng bất động sản khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng; loại trừ dư nợ vào room tín dụng đối với 18 dự án lớn…
Ngoài ra, NHNN cũng nhiều lần yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất, chủ động xây dựng các chương trình, sản phẩm, gói tín dụng phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên… Cụ thể, NHNN yêu cầu dòng tín dụng ưu đãi phải hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp và cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, kinh tế xanh, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến, chế tạo…
Tính đến ngày 24/8/2026, đã có 12 ngân hàng thương mại đăng ký, thông báo hoặc truyền thông tham gia Chương trình tín dụng ưu đãi để hỗ trợ tăng trưởng nền kinh tế với tổng quy mô khoảng 408.000 tỷ đồng.
Tại buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ trong tháng 8/2026, NHNN cho hay, cơ quan này sẽ căn cứ mức độ tuân thủ chỉ đạo giảm mặt bằng lãi suất để giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2027. Theo đó, các tổ chức tín dụng không thực hiện đúng chỉ đạo có thể bị giảm “room” tín dụng.
Có thể thấy, NHNN đã nhận thức rất rõ sức ép khổng lồ của ngành ngân hàng trong phục vụ tăng trưởng giai đoạn tới và cũng đang ráo riết thực hiện bước cải cách đột phá đầu tiên: tối ưu hóa danh mục tín dụng, nắn vốn vào các trọng tâm tăng trưởng.
Trong tiêu chí thi đua toàn ngành nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới, NHNN cũng yêu cầu các ngân hàng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Hơn nữa, nhiệm vụ dẫn dắt dòng vốn cũng đang được định hình rõ hơn với sự trở lại của nhóm Big 4 - những ngân hàng thương mại nhà nước, với nhiệm vụ vừa làm trụ cột, vừa làm lành mạnh hóa dòng chảy vốn của cả hệ thống. Phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nằm trong Top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản. Những "gã khổng lồ" này không chỉ đóng vai trò điều tiết thị trường, ổn định mặt bằng lãi suất, mà còn hướng dòng vốn chảy đúng địa chỉ.
Cuộc cách mạng về tối ưu vận hành nhờ trí tuệ nhân tạo
Không chỉ có những cải cách về nắn dòng tiền, cùng với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu, ngành ngân hàng đang bước vào cuộc cách mạng số lần thứ hai. Nhờ sự hỗ trợ của AI và dữ liệu, các ngân hàng không còn tồn tại dưới hình thức một ngân hàng số đơn lẻ, mà hướng tới một hệ sinh thái số. Các nhà băng thành công trong cuộc “đại cải cách số” này sẽ không chỉ tối ưu hóa vận hành, giảm chi phí, mà còn tăng hiệu quả hoạt động, từ đó có điều kiện cắt giảm lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
"Có thể khẳng định, chuyển đổi số ngành ngân hàng đang chuyển mạnh từ giai đoạn số hóa sang giai đoạn khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển hệ sinh thái số, đồng thời vẫn giữ vững yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống. Những kết quả này cho thấy ngành ngân hàng không chỉ đi đầu trong chuyển đổi số, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số", NHNN khẳng định.
Tính đến hết năm 2025, đã có gần 89% người dân Việt Nam từ 15 tuổi trở lên có tài khoản thanh toán; nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận tỷ lệ giao dịch qua kênh số đạt mức trên 95%; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp hơn 28 lần GDP. Trong giai đoạn 2021-2025, số lượng và giá trị giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt bình quân hàng năm tăng tương ứng 58,86% và 24,36%. Trong 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 34,28% về số lượng và tăng 12,24% về giá trị.
NHNN đặt mục tiêu phấn đấu 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP...
Mặc dù hệ thống ngân hàng đang nỗ lực cải cách bằng tối ưu hóa dòng vốn, tối ưu hóa vận hành, song để bảo đảm nguồn vốn cho tăng trưởng 2 con số, không thể chỉ dựa vào hệ thống ngân hàng thương mại.
Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam lần đầu tiên vượt mốc 100% vào năm 2009, đứng ở mức khoảng 145% cuối năm 2025 và có thể tăng vọt lên 155% cuối năm nay. Tỷ lệ đòn bẩy tài chính tăng lên đồng nghĩa với hệ thống tài chính tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chính vì vậy, cùng với bơm vốn đúng địa chỉ, ngành ngân hàng đang phối hợp với thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư để tái cấu trúc thị trường tài chính quốc gia, nâng tỷ trọng cung ứng của thị trường vốn. Đây cũng là nội dung được Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045
đề ra.
Những nỗ lực cải cách của ngành ngân hàng gần đây nằm trong chuỗi các giải pháp đồng bộ để cải cách tổng thể thị trường tài chính. Chỉ khi xây dựng được một hệ thống ngân hàng an toàn hơn, thông minh hơn và lành mạnh hơn, cỗ máy bơm vốn cho nền kinh tế mới đủ vững mạnh để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số bền vững.