Xung đột tại Trung Đông không chỉ là chuyện tên lửa, dầu mỏ hay một vùng sa mạc xa xôi. Những diễn biến gần đây đang cho thấy, quyền lực thời nay vận hành bằng cách khác: đánh vào dòng chảy của năng lượng, hàng hóa, tiền tệ, niềm tin và mô hình tăng trưởng. Trong thời đại bất định, câu hỏi lớn nhất không còn là ai mạnh hơn, mà là ai chống chịu tốt hơn khi dòng chảy bị vũ khí hóa.
| Cú nghẽn ở năng lượng có thể đi vòng rất nhanh qua vận tải, phân bón, nguyên liệu đầu vào và lịch giao hàng của doanh nghiệp sản xuất. Ảnh: Đ.T |
Bài cuối: Giữ thế và nhịp trong một thế giới đổi nhịp
Chiến tranh tại Trung Đông đang gửi tới thế giới tín hiệu rằng, trật tự an ninh và kinh tế toàn cầu đang cho thấy đặc điểm ngày càng rõ: các siêu cường có thể đổi ưu tiên rất nhanh, tái phân bổ nguồn lực rất nhanh và để lại những khoảng trống mà phần còn lại của thế giới phải tự lo lấy.
Bài học từ các nước châu Á
Đã xưa rồi chuyện chọn đứng gần một cực quyền lực nào hơn. Điều quý hơn là giữ được thế của mình khi bên ngoài đổi nhịp. Nhìn từ châu Âu và Đông Á, bài học ấy hiện lên khá rõ. Hàng loạt nước trong khối NATO từ chối tham gia liên minh với Mỹ và Israel chống Iran. Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia... đều đang tính đến câu hỏi: nếu Washington bị hút vào mặt trận khác, phần bảo đảm an ninh ở khu vực mình còn được giữ nguyên?
Việc Mỹ điều chiến hạm từ Nhật sang các nước vùng Vịnh (Gulf), điều một phần Patriot và THAAD khỏi Hàn Quốc, kêu gọi các đồng minh châu Á chia sẻ chi phí mở lại Hormuz, đã biến cuộc chiến Trung Đông thành một phép thử của niềm tin chiến lược ở Đông Á.
Ở đây, vấn đề không chỉ là ai sẵn sàng giúp Mỹ. Vấn đề sâu hơn là các đồng minh bắt đầu nghĩ tới “Plan B” vì hiểu ra sự thật. Với các nước tầm trung, điều khó không chỉ là hỗ trợ bên ngoài có thể đến chậm. Điều khó hơn là một quyền lực suy yếu chưa chắc hiền đi. Nhiều khi, chính lúc mất dần khả năng kiểm soát, họ lại phản ứng theo cách làm phần còn lại của thế giới khó đoán hơn.
Với Việt Nam: Giữ thế không đủ, phải giữ được nhịp
Với Việt Nam, bài học ấy đã được thấm sâu, nay cần rõ thêm bằng đặc sắc riêng, không phải mượn ngôn ngữ người khác. Một nước tầm trung không thể chỉ sống nhờ nghệ thuật cân bằng lời nói. Cũng không thể đặt an ninh phát triển của mình trên giả định rằng, bên ngoài rồi sẽ tự điều chỉnh để khôi phục ổn định chung.
Có những lúc thế giới trở lại bình thường khá nhanh. Cũng có những lúc bình thường trên mặt chữ đến trước, còn chữa lành thật của hệ thống đến rất chậm. Trong những giai đoạn như thế, một nền kinh tế có độ mở cao sẽ lộ rõ phần rễ có chắc hay không. Rễ ở đây không phải là ngôn từ. Rễ là năng lượng, logistics, tín dụng, tỷ giá, doanh nghiệp, khả năng chịu đựng của ngân hàng và năng lực điều hành để các cú sốc bên ngoài không đi thẳng vào tâm lý thị trường trong nước quá nhanh.
Hiểu đúng về an ninh năng lượng
Tầng đầu tiên của sức chống chịu là năng lượng, nhưng cũng không thể hiểu quá hẹp. Câu hỏi Việt Nam có đủ xăng dầu hay không mới chỉ chạm vào bề mặt. Câu hỏi đúng hơn là nền kinh tế có nhận được đúng đầu vào, đúng lúc, đúng cấu hình hay không. Chiến tranh Trung Đông cho thấy cú sốc không dừng ở dầu thô. Nó đi sang nhiên liệu tinh chế, jet fuel, diesel, phân bón, sulphur, naphtha và hàng loạt đầu vào công nghiệp khác. Nhiều nhà máy lọc dầu châu Á không chỉ gặp khó vì thiếu dầu, mà vì dầu thay thế có cấu trúc khác với loại họ được thiết kế để xử lý. Hệ quả là chi phí tăng, hiệu suất giảm, sản phẩm cuối cùng lệch đi.
Trong kinh tế thực, “có hàng” chưa chắc đã đủ; phải là đúng hàng, đến đúng lúc, vào đúng dây chuyền. Với nền kinh tế công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu như Việt Nam, đây là điểm không thể xem nhẹ. Một cú nghẽn ở năng lượng có thể đi vòng rất nhanh qua vận tải, phân bón, nguyên liệu đầu vào và lịch giao hàng của doanh nghiệp.
Chính ở đây, tư duy chống sốc cần dịch chuyển. Trong nhiều năm, khi gặp khó khăn, ta quen nhìn năng lượng như câu chuyện của giá cả: giá dầu lên bao nhiêu, quỹ bình ổn ra sao, điều hành xăng dầu thế nào. Cú sốc hiện nay nhắc rằng, năng lượng còn là câu chuyện của vận hành.
Nếu hàng về chậm vài tuần, cả mùa vụ có thể lệch. Nếu nhiên liệu hàng không thiếu hụt, vận tải khách và hàng hóa cùng chịu ảnh hưởng. Nếu phân bón tăng mạnh đúng trước vụ gieo trồng, chi phí không chỉ tăng trong một quý; nó có thể kéo dài sang cả năm sau. Chống sốc vì thế không chỉ là dự trữ nhiều hơn. Chống sốc là hiểu nền kinh tế mình đang phụ thuộc vào những mắt xích nào, mắt xích nào có thể thay thế, mắt xích nào nếu chậm nhịp sẽ kéo theo những ngành khác chậm nhịp.
Tiền tệ và lãi suất toàn cầu
Đây là phần dễ bị bỏ qua hơn giá xăng, nhưng có khi nguy hiểm hơn trong trung hạn. Cú sốc tại Trung Đông không đi qua một thế giới vô ký ức. Nó đi qua một hệ thống vẫn còn mang vết sẹo lạm phát 2022. Vì vậy, ngay cả khi cú sốc mới chưa đủ để tạo vòng lạm phát lớn như giai đoạn trước, các ngân hàng trung ương lớn vẫn có xu hướng thận trọng hơn nhiều với chuyện cắt lãi suất.
Bài học mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hay Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) rút ra từ vòng lạm phát trước là đừng vội gọi cú sốc hàng hóa là tạm thời, nó đã trở thành thường trực. Một khi ký ức thể chế đã đổi, đường cắt lãi suất toàn cầu có thể bị trì hoãn. Với thị trường tài chính hội nhập nhanh của Việt Nam, biến động tiền tệ toàn cầu tác động rất nhanh tới tỷ giá, chi phí vốn, kỳ vọng lạm phát và khả năng giữ ổn định hệ thống ngân hàng khi bên ngoài chưa cho phép tiền rẻ quay lại như nhiều người kỳ vọng.
Đây là lúc cần tránh ảo giác quen thuộc: thị trường dịu đi chưa chắc hệ thống đã lành lại. Giá dầu có thể hạ một nhịp sau một phát biểu mềm giọng từ Nhà Trắng. USD có thể tạm bớt áp lực. Tâm lý thị trường có thể bình tĩnh hơn sau vài ngày. Song chuỗi cung ứng vật lý, hợp đồng năng lượng, lịch giao hàng, niềm tin của hãng tàu và bảo hiểm, hay phản ứng của ngân hàng trung ương lớn, thường vận động chậm hơn.
Nói cách khác, tín hiệu sửa chữa có thể đến trước sửa chữa thật. Với nhà điều hành, nhầm lẫn giữa hai thứ này là rất nguy hiểm. Nếu nhìn một nhịp hạ nhiệt của thị trường như dấu hiệu khủng hoảng đã qua, phản ứng chính sách dễ quay về quán tính cũ. Trong khi đó, phần khó khăn thật có thể chỉ bắt đầu đi vào nền kinh tế.
Bánh xe dự phòng của nền kinh tế
Một thế giới bất định hơn buộc doanh nghiệp toàn cầu chuyển từ “just-in-time” sang “just-in-case”. Nhưng với Việt Nam, câu chuyện còn khó hơn. Nhiều doanh nghiệp trong nước vốn mỏng, dự trữ tiền mặt hạn chế, phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng... Khi cú sốc bên ngoài đến, phần dễ thấy nhất là thiếu đơn hàng, chi phí nhập khẩu tăng, tỷ giá căng hơn. Phần ít được nhìn hơn là bảng cân đối doanh nghiệp, bảng dự phóng dòng tiền có đủ chịu được vài quý khó khăn hay không. Nếu doanh nghiệp không có đệm, bài toán chống sốc sẽ lập tức bị đẩy sang hệ thống ngân hàng.
Chính ở đây, cần cảnh giác với “chiếc phao cứu sinh quen thuộc”. Gặp khó thì tăng giải ngân đầu tư công. Gặp chậm nhịp thì bơm tín dụng rẻ. Gặp suy giảm niềm tin thì nhờ vài tập đoàn lớn mở rộng đầu tư để kéo cả phần còn lại đi theo. Ba cách này đều có thể giúp trong ngắn hạn. Nhưng nếu dùng như động cơ chính quá lâu, chúng sẽ che mất độ yếu của cầu tư nhân thật, của khu vực doanh nghiệp đông nhưng mỏng vốn và của bảng cân đối ngân hàng.
Một nền kinh tế không thể bền vững nếu cứ đến lúc khó lại dồn toàn bộ gánh nặng ổn định lên tín dụng ngân hàng hoặc đầu tư công. Khi ấy, tăng trưởng được cứu ở hiện tại, còn hóa đơn bị đẩy sang tương lai dưới dạng nợ xấu, lệch bảng cân đối, chất lượng tài sản giảm và dư địa chính sách dần mỏng đi. Đây mới là điều cần nhìn khi nói tới sức chống chịu.
Trung Quốc ứng xử với cú sốc Iran bằng thứ tư duy lạnh. Họ không cố xóa mọi lệ thuộc. Họ cố làm cho mọi lệ thuộc đều trở nên có thể chịu được. Không nhà cung cấp nào được phép trở thành không thể thay thế. Không một nguồn năng lượng nào được phép thành chiếc van duy nhất. Không một cấu trúc nào được phép thiếu bánh xe dự phòng.
Với Việt Nam, tư duy đó rất đáng suy ngẫm. Nền kinh tế bền không phải là nền kinh tế không lệ thuộc. Đó là nền kinh tế có thể tiếp tục chạy khi một điểm lệ thuộc bị cắt. Điều này cần áp vào năng lượng, xuất khẩu, logistics, tín dụng, công nghệ, tái cấu trúc hệ thống doanh nghiệp.
Nhìn theo hướng đó, “giữ thế” trong thời đại mới không còn là một khái niệm chỉ thuộc ngoại giao. Giữ thế là một kiến trúc vật chất. Giữ thế là khi lãi suất toàn cầu neo cao lâu hơn dự kiến, tỷ giá trong nước chưa bật thành một cơn hoảng. Giữ thế là khi nguồn cung đầu vào bị nghẽn, doanh nghiệp vẫn có phương án thay thế để không gãy hàng loạt. Giữ thế là khi dòng vốn bên ngoài đổi hướng, ngân hàng trong nước chưa phải cứu mọi điểm yếu cùng lúc. Giữ thế là khi một siêu cường bị hút vào nơi khác, mình chưa phải phản ứng bằng sự hoảng hốt.
Đó là sự khác nhau giữa nền kinh tế chỉ biết tận dụng thời bình và nền kinh tế đã học cách sống trong trật tự luôn có thể đổi nhịp.