Miền Bắc - tâm điểm mới của tăng trưởng và nhu cầu điện
Sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế, làn sóng đầu tư công nghiệp mới cùng quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng đang khiến miền Bắc trở thành khu vực tăng trưởng phụ tải nhanh nhất cả nước.
Những con số vận hành trong tháng 6 năm 20206 tại miền Bắc cho thấy rõ điều đó.
Ngày 25/6/2026, hệ thống điện quốc gia ghi nhận công suất cực đại đạt 57.838 MW và sản lượng tiêu thụ đạt 1,222 tỷ kWh, cùng xác lập mức cao nhất từ đầu năm đến nay.
Riêng khu vực miền Bắc, công suất cực đại đạt 30.248 MW, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2025 và vượt 7,3% kỷ lục từng ghi nhận trong năm trước. Sản lượng điện tiêu thụ trong ngày lên tới 646 triệu kWh, tăng 20,9% so với cùng kỳ và cao hơn 11,5% so với mức đỉnh năm 2025.
| Công suất cực đạt và sản lượng điện nhận trong 6 tháng đầu năm 2026 của EVNNPC. Ảnh: ĐVCC. |
Trong địa bàn quản lý của Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) ở 17 tỉnh/thành phố, không bao gồm Hà Nội, áp lực vận hành còn thể hiện rõ nét hơn khi phụ tải tập trung tại các trung tâm công nghiệp, logistics và sản xuất công nghệ cao của cả nước.
Trong 6 tháng đầu năm, công suất cực đại của hệ thống do EVNNPC quản lý đã đạt 21.141 MW, tăng tới 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong khi sản lượng điện nhận đạt 58,37 tỷ kWh, tăng 13,29%. Điện thương phẩm ước đạt 56,41 tỷ kWh, tăng 12,27%, hoàn thành 48,32% kế hoạch năm EVN giao. Doanh thu bán điện đạt trên 120.824 tỷ đồng, tăng 16,62% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, sản lượng điện ngày lớn nhất trong khu vực EVNNPC quản lý đã đạt tới 447,6 triệu kWh vào ngày 25/6, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm trước.
Các địa phương ghi nhận tốc độ tăng trưởng phụ tải cao nhất đều là những cực phát triển công nghiệp mới của miền Bắc như Hà Tĩnh tăng 32,3%, Nghệ An tăng 24,8% và Bắc Ninh tăng 22,5%.
Cũng trong 6 tháng đầu năm, EVNNPC ghi nhận 47 đường dây 110 kV vận hành ở mức tải từ 80 - 100%, trong đó có 34 đường dây thường xuyên vận hành ở mức 90 - 100% công suất. Đồng thời xuất hiện 13 đường dây quá tải cục bộ do tăng trưởng phụ tải và thay đổi trào lưu công suất.
Cùng với đó, có tới 262 máy biến áp 110 kV vận hành đầy tải và 21 máy biến áp quá tải thường xuyên, tập trung tại các khu vực phát triển công nghiệp mạnh như Hải Phòng, Hưng Yên, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ninh và Thái Nguyên.
Đằng sau những con số tăng trưởng này là sự thay đổi sâu sắc trong cấu trúc kinh tế của miền Bắc.
| Tăng trưởng của công suất phụ tải cực đại (Pmax) và sản lượng điện trong 6 tháng đầu năm 2026 tại EVNNPC là cao nhất trong 5 tổng công ty phân phối của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. |
Hải Phòng đang trở thành trung tâm logistics và cảng biển lớn nhất phía Bắc. Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Nguyên tiếp tục mở rộng các tổ hợp điện tử, bán dẫn và công nghệ cao. Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ninh nổi lên như những điểm đến mới của dòng vốn đầu tư công nghiệp.
Những con số này cho thấy một thực tế mới: áp lực của hệ thống điện miền Bắc hiện nay không còn đến chủ yếu từ thiếu nguồn điện mà đến từ tốc độ tăng trưởng phụ tải quá nhanh tại các trung tâm kinh tế mới.
Chính sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, trung tâm dữ liệu, dự án điện tử và bán dẫn đang khiến bài toán cung cấp điện không còn đơn thuần là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất truyền thống mà đã trở thành một phần của năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư của từng địa phương.
Nỗ lực đảm bảo điện khi nhu cầu tăng mạnh
Vận hành của hệ thống điện ở miền Bắc trong nửa đầu năm 2026 với sự tăng trưởng mạnh của phụ tải khi xuất hiện nhiều nhà đầu tư mới cũng như nhu cầu điện sinh hoạt tăng mạnh còn phải đối mặt với sự cực đoan của thời tiết.
Ba đợt nắng nóng gay gắt xuất hiện liên tiếp trong tháng 5 và tháng 6 đã khiến biểu đồ phụ tải biến động mạnh, tạo ra những khoảng thời gian hệ thống phải vận hành trong tập trung cao độ.
Trong khi đó, nguồn điện mới đưa vào vận hành trong năm nay không nhiều, khiến dư địa dự phòng của hệ thống ngày càng thu hẹp.
| Thời tiết cực đoan khiến công suất phụ tải biến động lớn trong thời gian ngắn, gây nhiều thách thức cho công tác vận hành. Ảnh: ĐVCC. |
Theo tính toán của EVNNPC, phụ tải cực đại của khu vực miền Bắc trong năm 2026 có thể đạt từ 21.000 - 21.569 MW, tăng từ 10,7 - 13,7% so với năm 2025. Thậm chí, dưới tác động của hiện tượng El Nino và các đợt nắng nóng cực đoan kéo dài trong các tháng còn lại của mùa hè 2026, áp lực về cấp điện cũng đòi hỏi phải chú ý rất sát sao tại một số thời điểm.
Thời tiết cực đoan cũng tiếp tục là nguyên nhân chính gây ra các sự cố trên lưới điện. Cũng chỉ trong riêng tháng 6, thiên tai lớn, giông lốc và quá điện áp khí quyển chiếm gần 54% số vụ sự cố kéo dài trên lưới trung áp và hạ áp.
Thời tiết cực đoan cũng kéo theo những biến động lớn trong quá trình vận hành hệ thống điện trong thời gian ngắn.
Đơn cử ngày 25/6/2026, công suất phụ tải toàn hệ thống đã lập đỉnh mới nhưng chỉ một ngày sau, khi mưa xuất hiện trên diện rộng tại miền Bắc, phụ tải toàn quốc đã giảm khoảng 6.428 MW, riêng khu vực miền Bắc giảm khoảng 4.000 MW vào giờ cao điểm tối.
Sự biến động rất lớn về công suất này cũng đặt ngành điện phải chuyển từ tư duy "đáp ứng phụ tải" sang tư duy "quản trị phụ tải".
Theo các báo cáo chuyên đề của EVNNPC và các đơn vị thành viên tại Hội nghị sơ kết công tác sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm, mục tiêu nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 vừa diễn ra, công tác dự báo phụ tải ngày càng được chú trọng và đang phải đi trước một bước, dựa trên dữ liệu thời tiết, dữ liệu sản xuất của khách hàng lớn, dữ liệu đo xa và dữ liệu vận hành thời gian thực thay vì chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế như trước đây.
Thực tế Công ty Điện lực Hưng Yên đã triển khai nghiên cứu hơn 800 điểm đo phụ tải, đồng thời duy trì tỷ lệ kết nối dữ liệu đo xa lên tới 98,02% để phục vụ dự báo phụ tải là một ví dụ cụ thể.
Một giải pháp quan trọng khác là điều chỉnh phụ tải điện (DR). Tại Hưng Yên đã có 631 khách hàng ký thỏa thuận điều chỉnh và dịch chuyển phụ tải trong năm 2026. Trong các đợt nắng nóng vừa qua, nhiều doanh nghiệp sử dụng điện lớn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên như Công ty Thép Shengli, Công ty Thép Hòa Phát Hưng Yên hay Công ty Tôn Mỹ Việt đã chủ động phối hợp tiết giảm phụ tải vào giờ cao điểm để giảm áp lực vận hành hệ thống như cho người lao động nghỉ hè, đi du lịch…
| Trong 6 tháng đầu năm, số vụ sự cố lưới điện 110 kV chỉ còn 15 vụ, giảm tới 16 vụ so với cùng kỳ năm trước, tương đương mức giảm hơn 51%. Chỉ số độ tin cậy cung cấp điện tiếp tục được cải thiện khi SAIDI toàn Tổng công ty giảm còn 811,96 phút, giảm gần 142 phút so với cùng kỳ năm 2025 và mới thực hiện khoảng 41% kế hoạch năm. Ảnh: ĐVCC. |
Cũng tới nay, toàn Tổng công ty đã ký được 5.023/5.023 biên bản thỏa thuận DR, đạt tỷ lệ 100%, tiềm năng tiết giảm 1.300 MW. Các Công ty điện lực làm việc với khách hàng tham gia chương trình dịch chuyển phụ tải và cập nhật biểu đồ cam kết của 4.236/4.236 khách hàng, đạt tỷ lệ 100%, công suất dịch chuyển trung bình của các khách hàng thực tế so với cam kết lấy trên DRMS tại khung giờ từ 13h00-15h00 (tháng 5 là 1.900 MW, ước tháng 6 là 1.000 MW), khung giờ 20h00-23h00 (tháng 5 là 1.700 MW, ước tháng 6 là 900 MW).
Song song với đó, EVNNPC đã phối hợp với chủ đầu tư các nhà máy thuỷ điện nhỏ trên địa bàn thực hiện dịch khung giờ cao điểm của trên 300 nhà máy với tổng công suất đặt khoảng 4.000 MW.
Nhờ thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nên dù phải vận hành trong điều kiện rất khắc nghiệt, hệ thống điện miền Bắc vẫn duy trì được trạng thái an toàn và ổn định.
Nỗ lực đầu tư để đảm bảo cấp điện cho tăng trưởng
Nếu vận hành là câu chuyện của hiện tại thì đầu tư xây dựng lại là câu chuyện của tương lai.
Năm 2026, EVNNPC tiếp tục triển khai chương trình đầu tư xây dựng lớn nhằm giải tỏa các điểm nghẽn lưới điện, nâng cao khả năng cung cấp điện cho các khu công nghiệp và trung tâm tăng trưởng mới.
Trong 6 tháng đầu năm, Tổng công ty đã khởi công 26 dự án và đóng điện 30 dự án, tương ứng hoàn thành khoảng một phần ba kế hoạch năm. Giá trị giải ngân đầu tư xây dựng đạt 7.941 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước.
Trong giai đoạn cao điểm nắng nóng, EVNNPC đã đóng điện 20 trong tổng số 90 dự án trọng điểm nhằm bổ sung gần 800 MVA dung lượng lưới điện 110 kV cho các khu vực phụ tải tăng trưởng nóng.
| Công tác phát triển điện mái nhà tại EVNNPC đang được đẩy nhanh nhằm bổ sung nguồn tại chỗ. Ảnh: ĐVCC. |
Việc phát triển điện mặt trời mái nhà cũng được đẩy mạnh. Riêng tháng 6, toàn EVNNPC đã phát triển được 2.084 khách hàng đạt tỷ lệ 243% với công suất 96,1 MW đạt tỷ lệ 170% so với kế hoạch được giao. Tính chung 6 tháng, đã có 8.500 khách hàng lắp điện mặt trời mái nhà trên địa bàn EVNNPC quản lý với tổng công suất là 394,5 MW - vượt 16% so với kế hoạch được giao về công suất. Các địa phương triển khai tốt là Phú Thọ, Bắc Ninh, Nghệ An, Tuyên Quang, Hưng Yên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Lào Cai, Ninh Bình, Thái Nguyên.
Tổng công ty cũng đang nghiên cứu triển khai hệ thống lưu trữ năng lượng BESS quy mô khoảng 530 MW, trong đó khoảng 305 MW dự kiến có thể đưa vào vận hành trong năm nay nhằm hỗ trợ phụ tải đỉnh và nâng cao khả năng điều tiết hệ thống.
Tuy nhiên, công tác đầu tư xây dựng các dự án điện cũng vẫn gặp khó khăn ở việc giải phóng mặt bằng, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, sự thay đổi quy hoạch địa phương và tốc độ phát triển các khu công nghiệp nhanh hơn nhiều so với dự báo ban đầu.
Thực tế tại Bắc Ninh cho thấy nhiều trạm biến áp 220 kV như Quang Châu, Bắc Ninh 2 hay Bắc Ninh 3 đã ở trạng thái đầy tải hoặc quá tải trong khi nhu cầu điện của địa phương vẫn tiếp tục tăng mạnh cùng quá trình mở rộng các khu công nghiệp và dự án công nghệ cao.
Với các hiện trạng đang diễn ra, bài toán của miền Bắc trong những năm tới về đảm bảo điện cũng còn là làm thế nào để sử dụng điện thông minh hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn.
Công tác thu xếp vốn đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với EVNNPC trong năm 2026.
Theo Tổng công ty, công tác cân đối tài chính năm nay chịu tác động đồng thời từ nhiều yếu tố bất định như diễn biến giá điện trên thị trường cạnh tranh, biến động giá nguyên nhiên vật liệu, tỷ giá ngoại tệ và những ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị quốc tế, đặc biệt là xung đột Mỹ - Iran.
Khó khăn khác đến từ việc tiếp cận nguồn vốn vay thương mại trong nước. Theo lộ trình của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, giới hạn cấp tín dụng đối với EVN và các đơn vị liên quan tiếp tục được siết chặt, giảm từ mức 25% vốn tự có xuống còn 21% vào năm 2026 và tiếp tục giảm trong các năm tiếp theo. Điều này khiến dư địa vay vốn của EVNNPC tại các ngân hàng thương mại ngày càng thu hẹp.
Trong khi đó, nhiều ngân hàng đã sử dụng hết hạn mức tín dụng dành cho ngành điện hoặc đưa ra mức lãi suất cao hơn đáng kể so với trước đây. Thậm chí, có những khoản vay đã được chào cấp tín dụng nhưng sau đó ngân hàng rút lại do biến động lãi suất thị trường hoặc yêu cầu bổ sung các điều kiện về dòng tiền mới tiếp tục giải ngân.
Đối với nguồn vốn nước ngoài, EVNNPC cũng đang tích cực làm việc với nhiều định chế tài chính quốc tế như HSBC, ADB, SMBC hay Bank of China. Tuy nhiên, chi phí vốn bằng USD hiện vào khoảng 6,22%/năm, chưa kể rủi ro tỷ giá bình quân khoảng 2,61% mỗi năm cùng các yêu cầu khắt khe về môi trường, bảo hiểm và điều kiện giải ngân, khiến bài toán thu xếp vốn cho đầu tư lưới điện ngày càng trở nên phức tạp hơn.