Từ năm 2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài. Và trong những tháng qua, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, Nghị quyết số 280/NQ-CP, đây đều là những bước tiến rất quan trọng, thể hiện nỗ lực mạnh mẽ trong việc cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo về thu hút đầu tư nước ngoài.
Tại phiên thảo luận với chủ đề “Lực đẩy chính sách” thuộc khuôn khổ Tọa đàm “Kết nối kết nối Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức ngày 8/10, bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài khẳng định, thu hút FDI và tăng cường kết nối với doanh nghiệp nội là một chủ đề không mới nhưng luôn mang tính thời sự cao. Từ Nghị quyết 50-NQ/TW, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ kỳ vọng và định hướng mới đối với dòng vốn FDI.
“Nếu như 40 năm trước, khi Việt Nam mới bắt đầu mở cửa nền kinh tế, chúng ta chưa có nhiều cơ hội để lựa chọn. Các nhà đầu tư chọn Việt Nam và chúng ta tiếp nhận dòng vốn một cách tương đối bị động. Nhưng đến nay, sau 40 năm phát triển, đã đến lúc chúng ta nhìn nhận lại để chủ động lựa chọn dòng vốn phù hợp”, bà Thủy nói.
| Phiên thảo luận với chủ đề “Lực đẩy chính sách”. Ảnh: Đức Thanh |
Xuyên suốt từ Nghị quyết 50-NQ/TW, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, cho đến Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, định hướng của Trung ương và Bộ Chính trị đã thay đổi rất rõ ràng: Không thu hút FDI một cách tràn lan, bị động hay bằng mọi giá và Tập trung lựa chọn các dự án có dòng vốn chất lượng, công nghệ cao và có tính lan tỏa mạnh mẽ tới nền kinh tế trong nước.
Nghị quyết 10-NQ/TW đã được quán triệt sâu rộng đến từng cấp địa phương. Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 280/NQ-CP về Chương trình hành động triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW, giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương với 19 nhiệm vụ chung và các nhiệm vụ chuyên biệt.
Mục tiêu cốt lõi là phải thể chế hóa bằng được các tư tưởng chỉ đạo lớn, thay đổi toàn diện từ tư duy thu hút đến tư duy quản trị FDI: không chỉ thu hút nguồn vốn đơn thuần, mà thông qua FDI để thu hút công nghệ cao, phát triển hệ sinh thái và thúc đẩy nền kinh tế nội địa.
Hầu hết các nhiệm vụ theo Nghị quyết 280/NQ-CP đặt tiến độ hoàn thiện trong giai đoạn 2026–2027. Hiện nay, cơ quan quản lý đang nghiên cứu, báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung. Dự thảo Luật tập trung vào các định hướng lớn gồm định hình lại bản đồ thu hút đầu tư theo vùng và thiết lập các cơ chế ưu đãi đặc thù vượt trội.
Luật Đầu tư sửa đổi sẽ thiết lập các cơ chế ưu đãi mạnh mẽ hơn nhằm khuyến khích doanh nghiệp FDI dành thời gian, nguồn lực và nhân sự để tư vấn, đào tạo kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Điều mong muốn khi thu hút FDI theo cả chiều rộng và chiều sâu là để làm sao không chỉ dừng lại ở chuyển giao công nghệ đơn thuần, mà phải tăng cường liên kết, hình thành nên một hệ sinh thái công nghiệp kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Do đó, vấn đề tác động lan toả là trăn trở rất lớn của Chính phủ nhiều năm qua.
Lãnh đạo Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, về thực trạng, tỷ trọng của khối FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng tăng. Nếu xét về tính tự chủ của nền kinh tế, đây là con số đáng lo lắng. Nếu không có giải pháp đột phá, khối FDI sẽ tồn tại như những “ốc đảo” tăng trưởng riêng biệt, không tạo ra giá trị lan tỏa bền vững cho nền kinh tế nội địa.
| Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài. Ảnh: Chí Cường |
Rào cản trong chuỗi kết nối hiện nay đến từ cả 2 phía. Về phía doanh nghiệp FDI, các tập đoàn lớn khi đầu tư vào Việt Nam thường mang theo sẵn hệ sinh thái vệ tinh (doanh nghiệp phụ trợ cấp 1, cấp 2 từ chính quốc gia của họ, ví dụ như các tập đoàn Hàn Quốc, Nhật Bản). Họ có thói quen và ưu tiên sử dụng các nhà cung ứng quen thuộc.
Trong khi về phía doanh nghiệp trong nước, dù nhiều doanh nghiệp FDI khẳng định rất muốn thu mua linh kiện nội địa để giảm chi phí, nhưng năng lực của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế về quy mô, công nghệ, độ đồng đều chất lượng, tiến độ giao hàng và tính bền vững.
Tuy nhiên, bà Bùi Thu Thủy cho biết thêm, thời gian gần đây, góc nhìn của các tập đoàn FDI đã cởi mở hơn rất nhiều. Họ chủ động tìm kiếm sự phối hợp với Chính phủ để xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam.
Ở các nước trong khu vực cũng đang triển khai những chính sách hỗ trợ rất quyết liệt. Ví dụ như tại Malaysia, Chính phủ sẵn sàng hỗ trợ chi phí cho các tập đoàn FDI khi họ dành thời gian, chuyên gia để đào tạo, tư vấn và nâng cấp năng lực cho các doanh nghiệp nội địa. Thái Lan cũng xây dựng các chương trình kết nối công nghiệp quy mô lớn giữa FDI và SME nội địa hay Singapore tài trợ ngân sách cho các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D) chung giữa tập đoàn FDI và doanh nghiệp Singapore…
Trong bối cảnh này, Cục Đầu tư nước ngoài đang nghiên cứu tiếp thu các mô hình trên để đưa vào dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi và các Nghị định hướng dẫn về hỗ trợ đầu tư.
Trong đó đề xuất chuyển đổi phương thức ưu đãi từ hình thức đầu vào như miễn giảm thuế, tiền thuê đất sang hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra thực tế, tức là hỗ trợ chi phí dựa trên mức độ hoàn thành cam kết chuyển giao công nghệ và số lượng doanh nghiệp Việt Nam được đưa vào chuỗi cung ứng.
Bên cạnh đó là áp dụng gói ưu đãi đặc thù, đơn cử như trong lĩnh vực công nghệ cao và bán dẫn, Chính phủ đang đàm phán các gói ưu đãi thiết kế riêng, trong khi đó, phía tập đoàn FDI phải cam kết cụ thể về lộ trình chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa cho doanh nghiệp Việt Nam…