| Mỗi năm, một doanh nghiệp vật liệu xây dựng quy mô trung bình có thể phải chi từ 3-10 tỷ đồng cho các thủ tục hợp chuẩn, hợp quy. Ảnh minh họa |
Cả ngàn tỷ đồng làm hợp chuẩn, hợp quy
Mỗi năm, một doanh nghiệp vật liệu xây dựng quy mô trung bình có thể phải chi từ 3-10 tỷ đồng cho các thủ tục hợp chuẩn, hợp quy. Với toàn ngành, chi phí này được ước tính lên tới 1.000-2.000 tỷ đồng mỗi năm.
Đây là những con số mà cộng đồng doanh nghiệp đưa ra khi kiến nghị cải cách thủ tục nhập khẩu vật liệu xây dựng với Bộ Xây dựng.
Theo tổng hợp của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), thuộc Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, nhóm doanh nghiệp nhập khẩu vật liệu xây dựng, đặc biệt là mặt hàng kính xây dựng, đang phải chịu nhiều chi phí do cơ chế quản lý chất lượng hiện hành.
Cụ thể, chi phí hợp chuẩn, hợp quy đối với một nhà cung cấp nước ngoài dao động từ 300-500 triệu đồng mỗi năm. Với doanh nghiệp quy mô trung bình có từ 10-20 nhà cung cấp, tổng chi phí có thể lên tới 3-10 tỷ đồng mỗi năm.
Không chỉ dừng ở chi phí chứng nhận, doanh nghiệp còn phải đối mặt với chi phí lưu container, lưu bãi từ 5-15 triệu đồng mỗi ngày cho mỗi container nhập khẩu khi chờ hoàn tất thủ tục kiểm tra theo lôm chưa kể chi phí phát sinh khi thời gian chậm thông quan, thường kéo dài từ 5-10 ngày cho mỗi lô hàng.
“Tổng chi phí phát sinh từ việc kiểm tra theo lô có thể lên tới 5-10% giá trị hàng hóa”, Ban IV tổng hợp gửi Bộ Xây dựng.
Tuy nhiên, đó không phải lá lý do chính các doanh nghiệp thông qua Ban IV gửi kiến nghị thay đổi cách thức quản lý nhà nước với thủ tục này.
Doanh nghiệp mong muốn được quản lý theo mức độ rủi ro
Vật liệu xây dựng kính theo phân loại tại Thông tư 10/2024/BXD-TT được xếp vào nhóm phương thức đánh giá hợp quy (theo phương thức 5) và biện pháp kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu là trước khi thông quan (tiền kiểm); phải duy trì kiểm tra theo lô khi nhập khẩu (thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá quá trình sản xuất; giám sát thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất hoặc trên thị trường kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất. Hiệu lực của Giấy chứng nhận hợp quy không quá 3 năm và giám sát hàng năm.
Tuy vậy, doanh nghiệp phản ánh các tiêu chuẩn quốc tế chưa được chấp nhận đầy đủ; phải thử nghiệm và chứng nhận tại Việt Nam khiến chi phí tuần thủ tăng cao.
Vì vậy, trong văn bản gửi Bộ Xây dựng, Ban IV đã đề xuất công nhận các tiêu chuẩn quốc tế như ASTM (Mỹ), EN (châu Âu), ISO hay GB (Trung Quốc), đồng thời cho phép các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 tham gia đánh giá và cấp chứng nhận đối với vật liệu xây dựng nhập khẩu.
Cùng với đề, các doanh nghiệp kiến nghị được áp dụng cơ chế quản lý rủi ro thay cho việc kiểm tra đồng loạt.
Theo phương án Ban IV đề xuất, hàng hóa có mức độ rủi ro thấp có thể được miễn kiểm tra, nhóm rủi ro trung bình thực hiện kiểm tra xác suất, trong khi chỉ nhóm rủi ro cao mới phải kiểm tra chặt trước khi thông quan. Ban IV cũng đề xuất chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, phù hợp với tinh thần cải cách được đặt ra tại Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Bộ Xây dựng ghi nhận và đồng thuận với định hướng cải cách
Đáng chú ý, đây là một trong các nhóm kiến nghị của Ban IV nhận được phản hồi tích cực từ Bộ Xây dựng.
Trong văn bản vừa gửi Ban IV, Bộ Xây dựng cho biết đã ghi nhận các phản ánh liên quan đến việc công nhận tiêu chuẩn quốc tế, thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận hợp quy, chi phí và thời gian thực hiện thủ tục kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu, cũng như đề xuất áp dụng quản lý rủi ro và tăng cường số hóa thủ tục hành chính.
Bộ đánh giá các kiến nghị này "cơ bản phù hợp" với định hướng cải cách tại Nghị định 37/2026/NĐ-CP, trong đó nhấn mạnh ba trụ cột gồm quản lý theo mức độ rủi ro, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm và số hóa hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Bộ Xây dựng cũng thông tin tới Ban IV là cơ quan này sẽ phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các đơn vị liên quan để nghiên cứu cơ chế công nhận hoặc thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của các tổ chức quốc tế; áp dụng quản lý rủi ro đối với hàng hóa nhập khẩu theo mức độ tuân thủ của doanh nghiệp; đồng thời tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý chất lượng và an toàn công trình.