Kinh doanh
Doanh nhân Hoàng Thị Bích Thảo, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Hoàng Lam: Giữ cây sống là giữ danh dự của người trồng cây
Nguyễn lạc - 26/02/2026 10:48
Với những người gắn đời mình với cây xanh đô thị như bà Hoàng Thị Bích Thảo, mỗi chiếc lá là một lời báo cáo, mỗi mảng xanh là một cam kết. Bà cho rằng, giữ cây sống không chỉ là giữ mảng xanh cho đô thị, mà là giữ danh dự của người trồng cây.
Doanh nhân Hoàng Thị Bích Thảo, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Hoàng Lam:

Hạ tầng xanh không chỉ để… xanh

Tôi gặp bà Hoàng Thị Bích Thảo vào một buổi sáng ở TP.HCM, khi dòng xe ngoài phố vẫn chưa kịp thưa, tiếng động cơ trùm lên cuộc trò chuyện. Bà bắt đầu bằng câu hỏi: Cảnh quan đô thị rốt cuộc là chi phí trang trí hay một hạ tầng xanh cần đầu tư? Với bà, nếu đô thị cứ bê tông hóa mà thiếu xanh hóa song hành, thì cái nóng sẽ dồn xuống lòng đường, khói bụi sẽ lấp đầy phổi và người dân trả giá bằng những mùa nắng dài hơn, những đợt ngập sâu hơn.

Bà kể về lợi ích của mảng xanh theo thứ tự rất đời: lọc bụi, lọc khói, chống ô nhiễm; hạ nhiệt trong những ngày khí hậu leo thang; quan trọng nhất là nâng chất lượng sống. Nếu mỗi nhà tự gieo một mảng xanh nhỏ trên ban công, trên mái, thì Thành phố nhận về cả một mạng lưới bóng râm, chứ không phải chỉ vài “ốc đảo” công viên.

Triết lý quản trị “yêu cây xanh”“

Ở Hoàng Lam, triết lý quản trị được cô đọng trong một nguyên tắc giản dị: yêu cây xanh. Ai vào làm cũng phải bắt đầu từ tình yêu ấy. Văn phòng có những góc xanh, từng có cả những cuộc thi nho nhỏ để chăm cây đẹp hơn.

Cây xanh không giống bê tông. Bê tông có thể đứng yên nhiều năm mà không ai để ý, còn cây xanh thì héo ngay trước mắt nếu người trồng làm qua loa. Vì thế, bà Thảo đặt ra một nguyên tắc giản dị nhưng không dễ thực hiện: không để cây chết vì chủ quan; cây còn sống là phải mang về cứu; hoàn cảnh có thể thay đổi, nhưng cách đối xử với cây thì không.

Rồi bà chuyển sang “khoản bị lãng quên” trong nhiều dự toán: mỹ thuật. Nhiều chủ đầu tư chỉ cần “xanh”, chưa thật sự cần “đẹp”. Vài công viên lớn của Thành phố rộng hàng chục héc-ta, nhưng thiếu công trình biểu tượng, thiếu câu chuyện, người đến, rồi đi như rời khỏi một không gian “đủ dùng”. Trong khi đó, ở nhiều nước, công viên là công trình nghệ thuật, có điểm nhấn kiến trúc, có tượng, có đài phun, có thác nước, có dấu vết lịch sử, người ta đến đó không chỉ để chạy bộ, mà còn để ngắm, để hiểu, để kể lại.

Bà có gần 20 năm làm công tác quản lý công viên trong hệ thống nhà nước, gắn bó trực tiếp với việc vận hành, chăm sóc và tổ chức không gian xanh cho Thành phố. Chừng ấy thời gian đủ để bà hiểu rằng, một bản thiết kế dù đẹp đến đâu cũng không thể cứu nổi một công viên nếu khâu vận hành bị xem nhẹ.

Có những thời điểm, chỉ cần thiếu một tổ tưới, thiếu một chuyến xe chở đất, thì cả tuyến đường mới trồng bắt đầu loang lổ sau vài ngày. Người dân nhìn thấy và phán xét ngay, nhưng ít ai biết, phía sau đó là những lịch trực kín mít, những cuốn nhật ký phân bón, hay những quyết định rất kỹ về việc chọn giống cây chịu nắng hay chịu ngập.

“Cây không biết nói, nhưng có thể báo cáo bằng lá. Và đôi khi chính những chiếc lá ấy là thứ chỉ ra lỗi của con người rõ ràng nhất”, bà cười.

Trả lời câu hỏi “vì sao nhiều dự án khi bàn giao thì rất đẹp, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó đã bắt đầu xuống cấp?”, bà Thảo không vòng vo: “Công trồng là công bỏ, công chăm mới là công ăn”.

Với nghề cây xanh, trồng chỉ là bước khởi đầu. Điều quyết định nằm ở khâu chăm sóc - một công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, kỹ thuật và hơn hết là cái tâm của người làm nghề. Bà nói về chữ “tâm” bằng những việc rất nhỏ như thấy cây nghiêng thì nắn lại, thấy cây bệnh thì chữa, thấy hoa chết thì thay ngay. Khi không có tâm, những lệch lạc ấy sẽ không bao giờ được nhìn thấy và chỉ sau vài tuần, cả mảng xanh sẽ lặng lẽ tàn lụi.

Nhưng có tâm thôi vẫn chưa đủ, bởi còn một thứ “lạnh” hơn rất nhiều, đó là giá. Bà nói, trong không ít gói thầu hiện nay, người ta chỉ khống chế giá trần, còn giá sàn thì bỏ ngỏ. Ai bỏ giá thấp hơn sẽ có lợi thế, bất kể năng lực thực sự ra sao.

Thế nên, có những doanh nghiệp làm nghiêm túc phải gồng mình với bảo hiểm tăng, lương tăng, còn giá trúng thầu thì năm sau thấp hơn năm trước. Bà nhắc một con số khiến tôi giật mình: “Có công trình mà giá trúng thầu bị kéo xuống còn chưa đến một nửa so với định mức ban đầu”.

Từ câu chuyện đấu thầu, bà chuyển sang chuyện công nợ. Có những công trình đã hoàn thành, nhưng 2-3 năm sau vẫn chưa nhận đủ tiền duy tu. Không ít hợp đồng với chủ đầu tư tư nhân rơi vào tình trạng kéo dài, công nợ chồng chất.

Bà Thảo nói, cây xanh khác với xây dựng ở một điểm rất căn bản: “Tường chưa được thanh toán thì còn có thể dừng xây, nhưng cây mà dừng chăm sóc thì sẽ chết. Chết là mất, mà cái mất ấy người dân nhìn thấy ngay, không thể che giấu. Vì vậy, nhiều khi doanh nghiệp buộc phải tự gánh áp lực tài chính, chỉ để giữ cho cây còn sống, giữ cho không gian còn xanh và giữ trọn lời hứa đã cam kết với cộng đồng”.

Không giấu sự mệt mỏi, nhưng cũng không bi quan, bà Thảo nói, Thành phố đang bước vào giai đoạn mở rộng không gian đô thị, tái cấu trúc quy hoạch, với định hướng tăng trưởng xanh rõ ràng hơn. Trong quá trình đó, doanh nghiệp cảnh quan là đơn vị trực tiếp thực thi, giữ vai trò quan trọng, nhưng để làm tốt thì cần một cơ chế đấu thầu công bằng và những quy định chặt chẽ hơn đối với chủ đầu tư.

Bà Thảo nêu ra những đề xuất rất cụ thể: “Những khu đất trống nên được phủ xanh trong thời gian chờ dự án; ban công, mái nhà cần có tiêu chí cây xanh rõ ràng; cảnh quan phải được xem là một điều kiện nghiệm thu, chứ không chỉ là phần việc làm cho có. Nếu không có chính sách, doanh nghiệp cũng chỉ biết làm tốt nhất phần việc của mình”.

Từ kính phế thải đến vòng tuần hoàn lá cành

Nhưng cơ chế, với bà Thảo, chưa bao giờ là điểm kết. Khi những ràng buộc về giá, về công nợ và vận hành vẫn còn đó, bà chọn một lối khác để đi tiếp: công nghệ. Trong dòng câu chuyện về những “nút thắt” của nghề, bà bất ngờ rẽ sang hướng này, không phải để né tránh khó khăn, mà để tìm lời giải dài hạn cho đô thị.

Nắng nóng, mưa lớn, ngập lụt ngày càng rõ, khiến tiêu chí cây xanh đô thị buộc phải thay đổi. Không chỉ là chọn giống chịu nắng hay chịu nước, mà còn là thay vật liệu trồng, thay cách giữ nước, thay cách thấm. Bà Thảo nhắc đến khái niệm “thành phố bọt biển”: mặt đất và công trình giữ lại một phần nước mưa rồi nhả dần, giảm dòng chảy đổ ào xuống đường - một dạng chống ngập mềm đi cùng xanh hóa.

Hoàng Lam đang thí nghiệm một loại vật liệu mà bà Thảo gọi là “đá kính nhẹ”. Nó được tạo ra từ kính phế thải - thứ rác vốn khó xử lý, nhưng khi tái chế, lại có thể trở thành giá thể trồng cây. Bà chọn kính như một nhánh nhỏ để đi trước, bởi ở đó hội tụ nhiều lợi ích như vừa biến rác thành vật liệu, vừa giải bài toán trọng lượng cho các công trình xanh.

So với đất, đá kính chỉ nặng khoảng 1/3, nên có thể đưa lên mái mà không tạo áp lực lớn cho kết cấu. Quan trọng hơn, vật liệu này có khả năng thấm và giữ nước như một miếng xốp, giúp giảm đáng kể số lần tưới. Thay vì mỗi ngày một lần, cây có thể chỉ cần 2-3 lần tưới mỗi tuần mà vẫn đủ ẩm. Nhờ giữ lại dinh dưỡng, đá kính còn hạn chế tình trạng phân bón trôi xuống, qua đó giảm nguy cơ ô nhiễm nguồn nước.

Bà Thảo nói, ở Việt Nam, vật liệu này còn mới, nhưng tại nhiều vùng khô hạn trên thế giới, đã được sử dụng để tiết kiệm nước. Hoàng Lam đã thử nghiệm trên một vài đoạn đường, kết quả ban đầu khá khả quan, dự kiến tiếp tục thí điểm ở một số công viên để theo dõi lâu dài. Bà không vội tiết lộ tên địa điểm, sự thận trọng ấy giống hệt cách người làm nghề nhìn cây - phải đi qua mùa mưa, qua mùa nắng, cây mới nói thật.

Nhưng với bà, “đá kính” cũng chỉ mới khép được một nửa câu chuyện. Nửa còn lại nằm ở những cành lá bị bỏ đi sau mỗi lần cắt tỉa. Thay vì trở thành rác, chúng được Hoàng Lam gom về một điểm xử lý, tái chế thành phân bón và giá thể tuần hoàn. Nếu trước đây, quá trình phân hủy mất 6-8 tháng, thì nay được rút ngắn xuống còn 3-6 tuần.

Cách làm ấy giúp giảm khai thác đất tự nhiên, giảm khối lượng vận chuyển, giảm mùi và quan trọng hơn là tạo ra một vòng tròn khép kín: cây nuôi cây. Bà còn khuyến khích các đơn vị khác cùng tham gia, bởi mục tiêu cuối cùng không phải là một doanh nghiệp xanh, mà là một ngành xanh.

Hoàng Lam còn có sáng kiến “phủ xanh khu đất trống” bằng cây nhỏ cấp miễn phí. Cây chỉ 5 - 10 cm, trồng đầu mùa mưa, ít cần chăm. Chủ đất lo mặt bằng và nhân công, Công ty lo cây. Bà kể, 2 năm trước cấp khoảng 50.000 cây, năm vừa rồi khoảng 30.000 cây. Mục tiêu dài hơi là 500.000 đến 1 triệu cây mỗi năm để những khu đất bỏ hoang không còn là mảng bụi, mà là mảng xanh tạm thời, chờ ngày quy hoạch.

Khi nói về niềm tin, bà Thảo không chọn những định nghĩa cao siêu. Với bà, niềm tin nằm ở ánh nhìn của người dân - nơi cây xanh sống hay chết, công viên đẹp hay xuống cấp đều bộc lộ rõ ràng. Có lẽ vì từng gắn bó gần 20 năm trong hệ thống nhà nước, từng tổ chức những mùa chợ hoa Tết, bà nhạy với cái thiệt của người trồng hoa và những giá trị dễ bị xem nhẹ.

Bà phản biện câu nói “tặng hoa là lãng phí” bằng một lập luận rất đời: hoa cũng là sản xuất, có người trồng, có người sống nhờ đó; không mua thì ai là người gánh chịu? Bà nhớ những chiều 30 Tết, khi nửa bãi hoa vẫn còn nguyên, người đến chụp ảnh đông, nhưng người mua thưa dần. Bà tiếc khi làng hoa Gò Vấp từng là một điểm đến đẹp của Thành phố, đã lặng lẽ biến mất.

Tin liên quan
Tin khác