Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao vừa hoàn tất cáo trạng, truy tố ra trước Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội để xét xử đối với 28 bị can trong vụ án liên quan tới các vi phạm xảy ra tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ) và một số đơn vị liên quan.
Trong vụ án này, cựu Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Bá Hoan; Tống Hải Nam, cựu Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Cục QLLĐNN - Bộ LĐ-TB&XH) cùng 7 cấp dưới bị truy tố tội “Nhận hối lộ”.
Có 1 bị can bị truy tố về tội “Môi giới hối lộ” là Nguyễn Lâm Sơn, Giám đốc Công ty Luật TNHH Thành Đô.
Còn lại 18 bị can khác thuộc Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và cung ứng nhân lực Hoàng Long (Công ty Hoàng Long); Công ty cổ phần Tập đoàn cung ứng nguồn nhân lực JHL Việt Nam (Công ty JHL Việt Nam); Công ty cổ phần Cung ứng nguồn nhân lực trong nước JHL Việt Nam (Công ty JHL trong nước); Công ty TNHH MTV Hợp tác quốc tế Xây lắp 3 (Công ty Incoop 3) và Công ty cổ phần Cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại (Công ty Sona), bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”.
“Ma trận” rào cản của cơ quan quản lý
Theo hồ sơ vụ án, trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2025, tại Cục QLLĐNN đã hình thành một cơ chế gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhằm mục đích ép doanh nghiệp phải chi tiền.
Quá trình cấp phép cho 28 công ty đề nghị cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và các công ty đề nghị phê duyệt Phiếu trả lời đăng ký hợp đồng, các bị can tại Cục QLLĐNN đã can thiệp bằng các biện pháp hành chính.
Theo đó, Tống Hải Nam đã chỉ đạo Nguyễn Thành Hưng và Phan Thị Thu Trang (chuyên viên Phòng Pháp chế) chủ động kéo dài thời gian thẩm định hồ sơ, thường xuyên trả lại hồ sơ, yêu cầu bổ sung thông tin và tài liệu nhiều lần không có lý do chính đáng. Mục đích của việc này là buộc doanh nghiệp phải đưa tiền “đối ngoại” để hồ sơ được ký duyệt thuận lợi.
Hành vi nhũng nhiễu được thực hiện theo một quy trình khép kín từ cấp chuyên viên lên lãnh đạo Bộ. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Nguyễn Thành Hưng trực tiếp “gợi ý” doanh nghiệp phải chi từ 250 triệu đồng đến 400 triệu đồng cho mỗi bộ hồ sơ cấp mới giấy phép và khoảng 100 triệu đồng cho hồ sơ cấp đổi.
Đối với các doanh nghiệp thông qua đơn vị môi giới là Công ty Luật TNHH Thành Đô của Nguyễn Lâm Sơn, mức phí trọn gói cũng được thỏa thuận tương đương để được Hưng và Trang “hỗ trợ” đẩy nhanh thủ tục.
Sau khi nhận tiền, Hưng sẽ cân đối và chuyển lại cho Tống Hải Nam theo định mức từ 150 triệu đồng đến 250 triệu đồng mỗi hồ sơ để Nam trình lãnh đạo Bộ ký duyệt.
Hành vi tạo rào cản pháp lý, gây khó khăn cho doanh nghiệp được thể hiện rõ nét trong chương trình đưa lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo diện Visa E7 (ngành đóng tàu).
Cụ thể, Tống Hải Nam đã chỉ đạo xây dựng và áp dụng một “quy trình” thẩm định hồ sơ có nội dung trái với quy định của pháp luật; yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp các loại giấy tờ không có trong quy định, buộc phải có sự “hỗ trợ” của Cục QLLĐNN, với chi phí khoảng 500 USD/lao động, để được xác nhận hạn mức tuyển dụng và phê duyệt hồ sơ.
Mặc dù biết rõ tình trạng trên, song cựu Thứ trưởng Nguyễn Bá Hoan đã “làm ngơ” và tiếp tục ký các quyết định phê duyệt dựa trên những hồ sơ nhũng nhiễu này để thu lợi bất chính.
Tổng cộng, 28 doanh nghiệp đã phải chi hơn 30,2 tỷ đồng, để thực hiện các thủ tục cấp phép và phê duyệt hồ sơ.
“Ăn” trên lưng người lao động
Để đối phó với những rào cản hành chính và có được “tấm vé” thông hành trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, lãnh đạo nhiều doanh nghiệp đã chủ động thực hiện hành vi đưa hối lộ nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp phép và phê duyệt hợp đồng.
Theo hồ sơ vụ án, các bị can Nghiêm Quốc Hưng, Chủ tịch HĐQT Công ty Hoàng Long và hệ sinh thái JHL; Nguyễn Đức Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Sona và Nghiêm Văn Định, Giám đốc Công ty Incoop 3, đã trực tiếp hoặc gián tiếp chi tiền cho cán bộ Cục QLLĐNN.
Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tự thực hiện thủ tục, bị can Nguyễn Lâm Sơn, Giám đốc Công ty Luật TNHH Thành Đô, đã đóng vai trò trung gian môi giới hối lộ. Sơn bị xác định đã nhận tổng cộng hơn 11 tỷ đồng từ 13 doanh nghiệp để “chạy” trọn gói các thủ tục cấp mới và cấp đổi giấy phép hoạt động. Sau đó, Sơn chuyển hơn 4,9 tỷ đồng cho Nguyễn Thành Hưng và Phan Thị Thu Trang để can thiệp, đẩy nhanh việc thẩm định hồ sơ.
Để có nguồn kinh phí chi trả cho các khoản “đối ngoại” không chính thức và gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, các bị can đã thực hiện hành vi thu “tiền chênh” trái quy định đối với người lao động.
Với nhóm các công ty do Nghiêm Quốc Hưng điều hành, mức thu thực tế cao hơn quy định của Nhà nước từ 45 triệu đồng đến 135 triệu đồng/người, tùy theo từng thị trường, đơn hàng và thời điểm. Để hợp thức hóa, Hưng chỉ đạo Phạm Thị Hạnh (vợ Hưng), Đặng Thị Phương (Kế toán trưởng) và các nhân viên kế toán lập phiếu thu ghi nhận số tiền ít hơn thực tế người lao động đã nộp, sau đó chuyển số tiền thu vượt cho bộ phận kế toán nội bộ quản lý.
Tại Công ty Sona (đơn vị có vốn Nhà nước nắm giữ 98,31%), bị can Nguyễn Đức Nam đã bàn bạc và thống nhất với Nguyễn Thị Quỳnh Nga (Tổng giám đốc), chỉ đạo thu “tiền dịch vụ” của người lao động vượt định mức, từ 1.900 USD đến 5.500 USD/lao động tùy theo thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc hay châu Âu.
Số tiền vượt định mức này được chuyển một phần cho Nguyễn Đức Nam chi cho hoạt động “đối ngoại”, phần còn lại kế toán giữ lại tự quản lý và chi phí môi giới cho đối tác. Tổng số tiền Công ty Sona đã thu vượt định mức và để ngoài sổ sách là hơn 29,2 tỷ đồng.
Tương tự, tại Công ty Incoop 3, bị can Nghiêm Văn Định cũng tự đề ra mức thu phí đối với 293 lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo diện Visa E7 cao hơn quy định từ 500 USD đến 1.000 USD/người. Định trực tiếp quản lý, ghi chép theo dõi số tiền thu vượt này nhưng không bàn giao cho bộ phận kế toán hạch toán tài chính, không kê khai thuế theo quy định, để ngoài sổ sách kế toán
hơn 6 tỷ đồng.
Những con số đáng kinh ngạc
Để che giấu các khoản doanh thu khổng lồ từ việc tận thu này và trốn tránh nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, các doanh nghiệp đã sử dụng các thủ đoạn kế toán tinh vi. Từ năm 2020 đến 2024, nhóm công ty của Nghiêm Quốc Hưng đã để ngoài sổ sách kế toán doanh thu thực tế hơn 1.206 tỷ đồng, dẫn đến số thuế thu nhập doanh nghiệp bị trốn đã lên tới hơn 241,3 tỷ đồng.
Đối với Công ty Sona, việc để ngoài sổ sách hơn 29,2 tỷ đồng đã gây thiệt hại về thuế hơn 2,4 tỷ đồng; còn Công ty Incoop 3 gây thiệt hại về thuế cho Nhà nước hơn 432 triệu đồng. Tổng cộng, hành vi vi phạm quy định về kế toán tại các doanh nghiệp này đã gây thiệt hại về thuế cho Nhà nước hơn 244,2 tỷ đồng.
Quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã thực hiện các biện pháp quyết liệt để thu hồi tài sản cho ngân sách. Tổng số tiền mặt đã thu giữ, tạm giữ từ các bị can và những người liên quan trong quá trình điều tra và truy tố lên đến gần 252 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn điều tra thu giữ hơn 100,2 tỷ đồng và giai đoạn truy tố thu giữ thêm hơn 151,5 tỷ đồng.
Trong đó, bị can Nghiêm Quốc Hưng và nhóm Công ty Hoàng Long đã nộp khắc phục tổng cộng hơn 155 tỷ đồng; Nguyễn Lâm Sơn nộp lại tổng cộng 3,7 tỷ đồng.
Với nhóm bị can nhận hối lộ, cựu Thứ trưởng Nguyễn Bá Hoan đã nộp lại hơn 15,8 tỷ đồng; Tống Hải Nam nộp hơn 8,3 tỷ đồng; Nguyễn Thành Hưng nộp hơn 3,1 tỷ đồng. Thậm chí, một số cá nhân liên quan dù không bị xử lý hình sự về tội nhận hối lộ do tính chất hành vi, cũng đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền đã nhận, như trường hợp của ông Lê Tấn Dũng, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, đã nộp lại 500 triệu đồng.
Bên cạnh tiền mặt, cơ quan điều tra đã tiến hành kê biên hàng loạt tài sản để bảo đảm thi hành án. Tổng cộng có 4 bất động sản đứng tên vợ chồng bị can Nghiêm Quốc Hưng và Phạm Thị Hạnh đã bị kê biên.
Quá trình khám xét cũng thu giữ thêm nhiều tài sản có giá trị khác như: hơn 5,6 tỷ đồng tiền mặt; 1.480.495 USD; hơn 1,5 triệu yên Nhật, cùng nhiều trang sức bằng vàng và ngoại tệ khác tại trụ sở Công ty Hoàng Long và phòng làm việc của Nguyễn Bá Hoan.