Quy mô thương mại tăng mạnh
Thống kê cho thấy, quy mô xuất nhập khẩu của Việt Nam đang không ngừng mở rộng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Từ hơn 500 tỷ USD năm 2019, tổng kim ngạch đã tăng lên 930 tỷ USD vào năm 2024. Đà tăng tiếp tục được duy trì, đưa Việt Nam tiến gần mục tiêu 1.050-1.100 tỷ USD, dự kiến đạt được vào cuối năm 2026.
Đây không còn là mục tiêu xa vời khi chỉ sau 7 tháng của năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt 660 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ, tương đương tăng thêm 145 tỷ USD về giá trị tuyệt đối.
“Những con số nhảy vọt về quy mô thương mại cho thấy Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc trên bản đồ thương mại quốc tế”, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) Trần Thanh Hải nhận xét.
| Quy mô thương mại của Việt Nam không ngừng mở rộng, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Ảnh: Lê Toàn |
Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần xuất khẩu thô, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm khoảng 85,2% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Ngược dòng thời gian hơn 30 năm trước - năm 1995, khi Việt Nam vừa gia nhập ASEAN, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu mới đạt 13,4 tỷ USD. Đến nay, con số này đã tăng lên khoảng 930 tỷ USD, tương đương mức tăng gần 70 lần.
Sự thay đổi cũng thể hiện rõ qua ngành rau quả - một trong những ngành hưởng lợi đáng kể từ hội nhập và mở cửa thị trường. Nếu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu rau quả mới đạt 3,74 tỷ USD, thì đến năm 2025 đã tăng hơn gấp đôi, lên 8,6 tỷ USD và đang tiến gần mốc 10 tỷ USD.
Công ty Vina T&T Group - doanh nghiệp xuất khẩu trái cây, ghi nhận doanh thu xuất khẩu năm 2019 trên 30 triệu USD, đến nay tăng gần 3 lần, giữ vững vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực xuất khẩu trái cây tươi sang các thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Australia.
Xuất khẩu rau quả tăng theo hướng nâng cao chất lượng, tăng sản phẩm hàng hóa qua chế biến nhờ hàng loạt FTA thế hệ mới được đưa vào thực thi trong giai đoạn này, giúp mở cửa thị trường, đồng thời đưa thuế quan tại nhiều FTA về 0%. Tuy nhiên, cú hích lớn nhất là hoạt động đầu tư đã đi vào “đường ray”, với ngành sản xuất và chế biến ngày càng chuyên nghiệp, bài bản hơn. Đã xuất hiện những mặt hàng trái cây mang về gần 4 tỷ USD/năm như sầu riêng và rất có thể sẽ tăng lên 5 tỷ USD vào cuối năm 2026.
“Doanh nghiệp đã có sự thay đổi lớn trong gần một thập kỷ qua nhờ hưởng lợi từ việc mở cửa thị trường thông qua loạt FTA đã ký kết, đưa vào thực thi như CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP, CEPA… Nhờ đó, hoạt động đầu tư lớn được tiến hành, tập trung mạnh vào vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến...”, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch Vina T&T Group chia sẻ.
Hiện tại, hệ sinh thái xuất khẩu nông sản, trái cây tươi mà Vina T&T Group sở hữu ngày càng mở rộng, gồm vùng trồng, trạm sơ chế trái cây, nhà máy xử lý và đóng gói, chi nhánh văn phòng tại Mỹ, hệ thống cửa hàng thức uống từ trái cây...
Cần nhắc lại rằng, từ năm 2019 đến nay là giai đoạn Việt Nam ký kết và đưa vào thực thi nhiều FTA nhất. Theo Bộ Công thương, hàng loạt FTA thế hệ mới được ký kết với các thị trường lớn trên toàn cầu như 27 nước châu Âu, Vương quốc Anh, Canada, Mexico... đã được đưa vào thực thi trong 7 năm qua.
Cụ thể, CPTPP (1/2019), EVFTA (8/2020), UKVFTA (5/2021), RCEP (1/2022), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA), chính thức có hiệu lực từ ngày 17/11/2024 và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - UAE (CEPA), có hiệu lực từ tháng 2/2026.
Như vậy, đến nay cả nước có 17 FTA đang thực thi, tạo thuận lợi đáng kể cho thương mại hàng hóa quốc tế chuyển mình lên quy mô ngày càng lớn.
Mới nhất, sau hơn một thập kỷ đàm phán với 21 phiên chính thức, Việt Nam và 4 nước thuộc Hiệp hội Thương mại tự do châu Âu (EFTA), gồm Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein, đã ra Tuyên bố chung về việc kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt Nam - EFTA.
Việt Nam cũng đang đàm phán 2 FTA khác, gồm FTA ASEAN - Canada (ACAFTA) và FTA Việt Nam - Khối thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur).
Tính cả 2 FTA đang đàm phán và 1 FTA đã kết thúc đàm phán, Việt Nam hiện đã tham gia 20 FTA với gần 90 nền kinh tế lớn trên toàn cầu.
Không chỉ tăng trưởng ấn tượng về quy mô xuất nhập khẩu, dấu ấn của hoạt động ngoại thương còn thể hiện ở sự chuyển mình của cán cân thương mại từ nhập siêu sang xuất siêu.
Nhìn lại, trong giai đoạn trước năm 2010, Việt Nam thường xuyên nhập siêu, thậm chí có những thời điểm nhập siêu rất sâu. Năm 2012 là mốc quan trọng khi cán cân thương mại bắt đầu cân bằng và chuyển sang xuất siêu.
Từ năm 2016 đến nay, trong 10 năm liên tiếp, Việt Nam đều ghi nhận thặng dư thương mại, với mức cao kỷ lục 28 tỷ USD được thiết lập vào năm 2023. Việc duy trì xuất siêu liên tiếp trong 10 năm gần đây góp phần quan trọng tạo nguồn ngoại tệ ổn định, giảm áp lực lên tỷ giá và củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia.
Cứ điểm sản xuất hàng hóa toàn cầu
Theo dữ liệu của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tính đến tháng 12/2025, có 380 FTA đang có hiệu lực trên toàn cầu. Trong tiến trình hội nhập này, việc ký kết và thực thi 17 FTA với hơn 60 đối tác đã giúp Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, gia nhập nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu.
Thông qua các FTA, Việt Nam đã tiến thêm một bước trên con đường tự do hóa thương mại, đồng thời củng cố năng lực sản xuất và cung ứng nguồn hàng gần 500 tỷ USD cho chuỗi giá trị toàn cầu. Chỉ cuối năm nay, kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 540-550 tỷ USD. Nền kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu cũng đã xuất hiện nhóm hàng có kim ngạch trên 100 tỷ USD mỗi năm là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.
TS. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế nhận định, quá trình mở cửa, hội nhập kết hợp với cải cách trong nước đã tạo tác động qua lại mạnh mẽ. Không chỉ thúc đẩy sản xuất, kinh doanh sôi động hơn, hội nhập còn là chất xúc tác cho cải cách thể chế, đáp ứng các thông lệ và cam kết quốc tế, qua đó nâng cao năng lực để Việt Nam hội nhập sâu hơn với các nền kinh tế lớn trên thế giới.
“Chính những cải cách trong nước cùng với ổn định kinh tế vĩ mô là điểm tựa để Việt Nam tự tin hơn, ‘dám chơi’ hơn và xây dựng được những quan hệ đối tác tốt hơn”, ông Thành nhấn mạnh.
Từ cú hích mở cửa và thu hút dòng vốn FDI lớn, Việt Nam đã trở thành cứ điểm sản xuất của nhiều ngành hàng chủ lực, điển hình là điện tử. Việt Nam hiện nằm trong nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hiệu quả, với tốc độ tăng trưởng khoảng 20-25%/năm. Chỉ riêng Samsung Việt Nam đã đóng góp 64,9 tỷ USD doanh thu và 57,1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu trong năm 2025, với tổng vốn đầu tư lũy kế vượt 24 tỷ USD.
Sau hành trình mở cửa, hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế, thương mại Việt Nam đã tiến lên một nấc thang mới, từng bước khẳng định vị thế và thương hiệu của một cường quốc xuất khẩu. Tuy nhiên, vị thế này cũng đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải phát triển tương xứng, chuyển mạnh sang xuất khẩu xanh, bền vững và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Cục Xuất nhập khẩu cho rằng, để duy trì tăng trưởng xuất khẩu bền vững, cần đặc biệt chú trọng phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, có khả năng cung ứng nguyên liệu, linh kiện và bán thành phẩm cho các ngành xuất khẩu chủ lực.
Giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu đầu vào nhập khẩu không chỉ giúp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, mà còn tăng sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.
“Khi chủ động được sản xuất, làm chủ công nghệ và có năng lực nghiên cứu - phát triển (R&D), chúng ta mới có thể nói tới việc gia tăng giá trị thực sự trong xuất khẩu”, ông Trần Thanh Hải nói.