| Ông Scott Strazik chia sẻ tại Hội nghị thường niên “Năng lượng Kiến tạo Đổi thay - The Energy of Change Summit” mới đây |
CÔNG NGHỆ MỚI CHO BÀI TOÁN ĐIỆN SẠCH
Thưa ông, trong bối cảnh nhu cầu điện trên toàn cầu đang tăng mạnh kèm với mục tiêu khử carbon, đâu là lợi thế cạnh tranh cốt lõi giúp GE Vernova thực sự dẫn dắt quá trình điện khí hóa?
Thế giới đang bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới về nhu cầu năng lượng. Nhìn vào dự báo của các tổ chức năng lượng quốc tế, có thể thấy, trong vòng một thập kỷ tới, nhu cầu điện toàn cầu sẽ tăng rất nhanh, thậm chí nhanh hơn nhiều so với các giai đoạn trước. Không có một công nghệ đơn lẻ nào có thể cung cấp giải pháp hiệu quả cho toàn bộ bài toán năng lượng.
Lợi thế của GE Vernova là sở hữu nhiều công nghệ khác nhau để có thể cung cấp giải pháp toàn diện cho các quốc gia. Đó có thể là điện khí, điện gió, hoặc các khoản đầu tư vào hạ tầng lưới điện. Không có nhiều công ty trên thế giới có danh mục công nghệ đa dạng như chúng tôi.
GE Vernova đã ký thỏa thuận cung cấp thiết bị cho Nhà máy Điện LNG Quảng Trạch II quy mô hơn 1,6 GW của EVN tại tỉnh Quảng Trị để đạt được mục tiêu đi vào vận hành chính thức vào năm 2030.
Theo thỏa thuận giữa GE Vernova và PV Power ngày 10/3/2026, hai tua-bin khí và máy phát điện sẽ được ưu tiên bàn giao trong năm 2029 để phục vụ Dự án năng lượng LNG Quỳnh Lập với tổng công suất lắp đặt khoảng 1,6 GW. Hai bên cũng sẽ tiếp tục trao đổi về khả năng cung cấp thêm các tổ máy trong thời gian tới.
GE Vernova cũng được Công ty cổ phần Năng lượng VinEnergo của Tập đoàn Vingroup lựa chọn cung cấp hai tua-bin khí 9HA.02 và hai máy phát điện H78 cho nhà máy điện khí LNG Hải Phòng, với tổng công suất hơn 1,6 GW.
Một yếu tố quan trọng khác là chúng tôi có mạng lưới khách hàng và hệ thống thiết bị rất lớn đang vận hành trên toàn cầu. Hiện nay, công nghệ của GE Vernova góp phần tạo ra khoảng 25% lượng điện của thế giới mỗi ngày. Điều này giúp chúng tôi có khả năng điều chỉnh, nâng cấp các hệ thống đã lắp đặt một cách hiệu quả để hỗ trợ các quốc gia đáp ứng nhu cầu năng lượng trong thời gian ngắn.
Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang chạy đua xây dựng trung tâm dữ liệu, phát triển công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI)… vốn đòi hỏi nguồn điện lớn, ổn định, nhưng phải ít phát thải, tua-bin khí đang nổi lên là một giải pháp tối ưu để thỏa mãn các nhu cầu này. GE Vernova làm thế nào để vừa bảo đảm lợi ích thương mại của mình, mà vẫn đáp ứng được mục tiêu bền vững thực chất?
Chúng tôi thường nói rằng, đổi mới sẽ dễ dàng hơn khi có tăng trưởng. Khi nhu cầu đối với các sản phẩm của chúng tôi tăng mạnh, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư vào các công nghệ khử carbon.
Ví dụ, dự án lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) của chúng tôi đang có tiến độ phát triển nhanh hơn dự kiến ban đầu. Bởi lẽ, các trung tâm dữ liệu quy mô lớn (hyperscalers) đang cần các giải pháp công nghệ và họ muốn đó phải là giải pháp khử carbon.
Điểm thú vị của các công ty AI là họ sẵn sàng trả chi phí cao hơn cho nguồn năng lượng sạch. Vì vậy, dù là lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ hay công nghệ thu giữ carbon (carbon capture) tích hợp vào điện khí hoặc các công nghệ quy mô lớn và phức tạp khác, đều sẽ vẫn tiếp tục phát triển hơn nữa nhờ nhu cầu ngày càng tăng này. Sự tăng trưởng mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay sẽ đẩy nhanh việc triển khai các công nghệ khử carbon.
Tại Việt Nam, điện than hiện chiếm khoảng 32% nguồn đặt, nhưng về sản lượng đang chiếm tới 50%. Theo ông, “tỷ lệ phối trộn” giữa các nguồn điện từ thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện khí, điện hạt nhân, hay năng lượng tái tạo và lưu trữ (BESS) nên như thế nào để đảm bảo được an ninh năng lượng lẫn giảm phát thải?
Mỗi quốc gia có điều kiện phát triển, tài nguyên và nhu cầu năng lượng khác nhau, nên cơ cấu nguồn điện cũng sẽ khác nhau. Cơ cấu này cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, trong quá trình tạo ra lượng điện cần thiết phục vụ tăng trưởng kinh tế, các quốc gia cần cân bằng 3 yếu tố: nguồn cung điện, khả năng phục hồi của hệ thống và mục tiêu khử carbon, đồng thời bảo đảm tính hợp lý về chi phí.
Tôi không cho là có một tỷ lệ lý tưởng cố định cho năm 2026 hay năm 2030. Điều quan trọng là phải hướng tới giảm cường độ phát thải carbon của toàn bộ hệ thống điện.
Trong bối cảnh Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh, tôi quan tâm nhiều hơn đến giảm cường độ phát thải carbon của hệ thống điện, thay vì tổng lượng phát thải tuyệt đối. Một số công nghệ như điện khí vẫn có phát thải carbon, nhưng vẫn góp phần khử carbon cho toàn hệ thống.
Đó là bởi điện khí là nguồn phát có độ ổn định cao, lại nhanh chóng đạt công suất mong muốn, nên giúp hệ thống điện duy trì được sự ổn định, liên tục trong cấp điện khi điều kiện gió hay bức xạ mặt trời không sẵn sàng. Cũng nhờ các ưu thế này mà sự có mặt của điện khí sẽ lại tạo điều kiện để phát triển nhiều hơn nữa năng lượng tái tạo từ gió và mặt trời.
Như vậy, vừa đáp ứng được mục tiêu nhu cầu điện cho nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ, đồng thời từng bước làm giảm cường độ phát thải carbon của hệ thống điện theo thời gian.
| Nhà máy sản xuất máy phát điện tua-bin gió của GE Vernova tại Hải Phòng |
VIỆT NAM - ĐIỂM ĐẾN ĐẦU TƯ MỚI
GE Vernova đã có 3 cơ sở sản xuất tại Việt Nam và vừa công bố khoản đầu tư mới hơn 200 triệu USD cho cơ sở thứ 4. Việt Nam có tiềm năng trở thành một trung tâm sản xuất mới của GE Vernova tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương không, thưa ông?
Việc chọn Việt Nam để tổ chức Hội nghị thường niên “Năng lượng Kiến tạo Đổi thay - The Energy of Change Summit” là vì chúng tôi xem đây là một nền tảng để đầu tư cho quốc gia này, khu vực và cả thế giới.
Hiện chúng tôi có 3 cơ sở hỗ trợ mảng điện khí là Nhà máy sản xuất lò hơi thu hồi nhiệt (HRSGs) tại Dung Quất (Quảng Ngãi) và Trung tâm dịch vụ cho tua-bin khí ở Phú Mỹ (TP.HCM) và Nhà máy sản xuất máy phát điện tua-bin gió tại Hải Phòng phục vụ thị trường toàn cầu.
Ngoài các thỏa thuận thương mại cung cấp tua-bin khí và máy phát cho 3 dự án điện khí LNG đang được triển khai xây dựng, GE Vernova cũng công bố khoản đầu tư mới trị giá khoảng 200 triệu USD tại Hải Phòng liên quan đến lĩnh vực truyền tải điện siêu cao áp một chiều (HVDC).
Bên cạnh đó, Quỹ GE Vernova Foundation phối hợp với Trường đại học Điện lực khai trương Trung tâm Đào tạo Xuất sắc về điện gió, với mục tiêu tới năm 2027 đào tạo được hơn 4.000 sinh viên, kỹ sư và kỹ thuật viên. Trung tâm là một cấu phần trọng tâm của Dự án Phát triển Kỹ năng RENEW Skills đã được triển khai từ tháng 11/2024 bằng khoản tài trợ trị giá 750.000 USD từ Quỹ GE Vernova Foundation.
Những động thái trên được kỳ vọng góp phần thúc đẩy Việt Nam hiện thực hóa tầm nhìn chuyển dịch năng lượng theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh.
Và chúng tôi vừa khởi công thêm một nhà máy sản xuất thiết bị cho truyền tải điện siêu cao áp một chiều (HVDC) cũng tại Hải Phòng. Như vậy, cả ba mảng kinh doanh lớn của GE Vernova đều đã có “dấu ấn” sản xuất tại Việt Nam.
Nếu hỏi tôi có nhận thấy khả năng tiếp tục tăng trưởng của Việt Nam không, thì câu trả lời là có. Việt Nam là một thị trường tiềm năng và có nhiều dư địa để tăng trưởng nhờ sự ổn định về chính sách, nằm trong một khu vực đang tăng trưởng nhanh và có chi phí cạnh tranh. Vì vậy, tôi nghĩ, GE Vernova chắc chắn sẽ rót thêm vốn đầu tư vào Việt Nam trong trung và dài hạn.
Theo ông, đâu là điều kiện then chốt để một tập đoàn công nghệ năng lượng toàn cầu như GE Vernova mở rộng đầu tư dài hạn tại Việt Nam? Đó là sự ổn định chính sách, sự phát triển ngành điện, hay khả năng nội địa hóa chuỗi cung ứng?
Xét từ góc độ chính sách, chúng tôi đánh giá cao sự định hướng rõ ràng từ Quy hoạch Điện VIII. Quy hoạch này mang lại cho chúng tôi tầm nhìn tương đối rõ trong khoảng 5 năm về những mục tiêu mà Việt Nam đang hướng tới, từ đó giúp GE Vernova có cơ sở để đưa ra các quyết định và kế hoạch đầu tư.
Việt Nam hiện có khoảng 90 GW công suất điện và đặt mục tiêu nâng con số này lên hơn 200 GW vào năm 2030 - đó là một tham vọng rất lớn. Nhưng chính tham vọng đó lại là động lực để chúng tôi tiếp tục đồng hành và mở rộng hơn nữa tại thị trường Việt Nam.
Nếu không có sự rõ ràng về định hướng mà Quy hoạch Điện VIII đặt ra, chúng tôi sẽ khó có thể ưu tiên thị trường này trong chiến lược phát triển của mình. Vì vậy, khi nhìn vào chính sách năng lượng hiện nay của Việt Nam, chúng tôi thấy đây là môi trường rất thuận lợi để GE Vernova tiếp tục đầu tư và góp phần hỗ trợ các mục tiêu phát triển mà Chính phủ Việt Nam đang theo đuổi.
Sau Nhà máy Điện Nhơn Trạch 3&4 sử dụng tua-bin thế hệ H có hiệu suất cao nhất thế giới, GE Vernova đã ký thỏa thuận cung cấp tua-bin khí 9HA.02 và máy phát điện H78 cho 3 dự án điện dùng LNG khác tại Việt Nam. Tuy nhiên, danh sách các dự án điện khí chuẩn bị đầu tư tại Việt Nam còn rất dài và nhiều chủ đầu tư mong muốn sớm mua được các thiết bị có hiệu suất cao như của GE Vernova để nhanh về đích, đủ điều kiện áp dụng các chính sách tốt của Chính phủ Việt Nam dành cho điện khí trước năm 2031. Mong ước này liệu được GE Vernova hỗ trợ ra sao khi Công ty cũng đang rất bận rộn với nhiều khách hàng lớn như Nhà nước Arab Saudi với trị giá lên tới 14 tỷ USD, hay đã kín đơn hàng tới hết năm 2028?
Chúng tôi sẽ ưu tiên thị trường Việt Nam. Như tôi đã nói với các khách hàng Việt Nam, chúng tôi sẽ triển khai nhanh chóng tương đương với tốc độ mà các khách hàng có thể tiến hành. Nếu các dự án có thể đẩy nhanh tiến độ xây dựng đến mức chúng tôi có thể xác định được thời điểm các bệ đặt tua-bin sẵn sàng, cần tua-bin khí, chúng tôi sẽ cung cấp tua-bin.
Nhiệm vụ của chúng tôi là phát triển nhanh nhất có thể để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, và chúng tôi có động lực rất lớn để nắm bắt cơ hội tại Việt Nam. Vì vậy, GE Vernova chắc chắn có động lực mạnh mẽ để hỗ trợ tất cả khách hàng ở đây, góp phần khiêm tốn vào việc giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu năng lượng của mình.
Trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị, ông có đề cập việc lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR) của GE Vernova đang được triển khai tại một số nơi. Ở Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) được giao đầu tư Dự án điện hạt nhân số 2 đang tìm kiếm phương án thích hợp. Vậy ông có kỳ vọng về cơ hội để GE Vernova trở thành đối tác trong dự án điện hạt nhân tại Việt Nam không?
Chúng tôi đang xây dựng lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR) 300 MW đầu tiên tại Canada và dự kiến triển khai thêm các dự án tại Mỹ, Thụy Điển và Ba Lan. Mục tiêu của GE Vernova là xây dựng một số dự án toàn cầu để giảm chi phí công nghệ thông qua các khách hàng tiên phong. Tôi tin rằng, trong thập kỷ tới, SMR có thể trở thành một giải pháp thực tiễn cho Việt Nam.
Trong ngắn hạn, SMR vẫn là nguồn điện có chi phí cao, nên có lẽ chưa phải là giải pháp ngay lập tức cho Việt Nam, đặc biệt khi cân nhắc về khả năng chi trả. Tuy nhiên, về lâu dài, để giảm cường độ phát thải carbon của hệ thống điện, SMR có thể trở thành giải pháp thay thế hiệu quả cho các nhà máy điện than cũ và đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn điện ổn định.
Tôi không thể nói chính xác thời điểm nào SMR sẽ trở nên phổ biến, nhưng dự kiến trong thập kỷ tới, công nghệ này sẽ trở thành một phần quan trọng của hệ sinh thái năng lượng tại Việt Nam.
Nhà máy mới của GE Vernova liên quan đến truyền tải điện siêu cao áp một chiều (HVDC). Trong khi đó, Việt Nam, cụ thể là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng đang muốn đẩy nhanh tiến độ đầu tư 2 đường dây HVDC ở phía Bắc và triển khai mạnh hơn lưới điện thông minh. GE Vernova có khuyến nghị hay hỗ trợ nào trong nâng cấp hạ tầng truyền tải ở Việt Nam nhằm tích hợp hiệu quả năng lượng tái tạo ở quy mô lớn không, thưa ông?
Tôi cho rằng, ở cấp quốc gia, cần có một quy trình cấp phép hiệu quả để các dự án HVDC đi qua nhiều địa phương sớm được triển khai. Quốc gia cấp phép càng nhanh thì dự án càng có thể triển khai sớm.
Tiếp đó là việc nội địa hóa sản xuất để cung cấp các giải pháp với chi phí cạnh tranh hơn. Khi sản xuất tại địa phương, chi phí logistics sẽ thấp hơn đáng kể. Vai trò của chúng tôi trước hết là có dấu ấn sản xuất tại thị trường nội địa. Ngoài ra, chúng tôi cũng vừa công bố khoản đầu tư từ Quỹ GE Vernova tại Trường đại học Điện lực (EPU). Trong 3 năm tới, chương trình này sẽ hỗ trợ ít nhất 4.000 sinh viên.
Việc đầu tư vào nguồn nhân lực nội địa cho ngành năng lượng cũng là cách mà chúng tôi giúp Việt Nam phát triển nhanh hơn.
Hội nghị thường niên “Năng lượng Kiến tạo Đổi thay - The Energy of Change Summit” lần này của GE Vernova cho thấy vai trò ngày càng tăng của Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của GE Vernova. Hình dung của ông về GE Vernova trong 10-15 năm tới tại Việt Nam là gì?
Đây là lần đầu tiên chúng tôi tổ chức một sự kiện tại châu Á và việc lựa chọn Việt Nam là địa điểm tổ chức Hội nghị một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của quốc gia này đối với chúng tôi. Trong 3 năm qua, chúng tôi mới chỉ tổ chức 3 sự kiện như vậy trên toàn cầu.
Nhìn về 10 - 15 năm tới, tôi hy vọng, chúng tôi sẽ góp phần xây dựng một hệ sinh thái năng lượng phức tạp và hoàn thiện hơn tại Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, việc có mặt tại Việt Nam, tham gia cộng đồng tại đây, đầu tư vào các cơ sở giáo dục như Trường đại học Điện lực, xây dựng nhà máy mới và tổ chức các sự kiện lớn để thúc đẩy đối thoại trong ngành đều giúp chúng tôi tiến gần hơn tới vai trò như một “cầu nối” hỗ trợ Việt Nam xây dựng hệ sinh thái cần thiết để hiện thực hóa các kỳ vọng và mục tiêu quốc gia.
Với tham vọng và năng lực phát triển của đất nước, Việt Nam sẽ cần lượng điện lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu của mình. Trong 10 - 15 năm tới, với sự phát triển này, hạ tầng năng lượng của Việt Nam sẽ đạt được nhiều bước tiến mới, khác xa so với hiện nay.
Tôi tin tưởng và hy vọng GE Vernova sẽ đóng một vai trò ý nghĩa trong việc hỗ trợ đất nước các bạn, góp phần giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu của mình, bắt đầu từ Quy hoạch Điện VIII, sau đó sẽ có sẽ có Quy hoạch Điện IX, rồi Quy hoạch Điện X.