| Ảnh minh họa. |
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành công văn số 1095/VPCP-CN, gửi Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Tư pháp; Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương; Chủ tịch UBND TP. Hà Nội và Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, nhằm truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà về việc xác định cơ quan chủ quản và bố trí nguồn kinh phí đầu tư Dự án xây dựng Tổ hợp Công nghiệp đường sắt.
Theo đó, Phó Thủ tướng giao các Bộ: Xây dựng, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Tư pháp và UBND TP. Hà Nội nghiên cứu, có ý kiến đối với đề nghị của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, trong đó làm rõ sự cần thiết, cơ sở pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung liên quan; gửi Bộ Tài chính trước ngày 8/2/2026.
Bộ Tài chính căn cứ quy định pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đường sắt và các quy định pháp luật liên quan, chịu trách nhiệm xem xét, đánh giá các nội dung kiến nghị của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ theo đúng trình tự, thủ tục, quy định và thẩm quyền; hoàn thành trước ngày 12/2/2026.
Phó Thủ tướng cũng giao Tổng công ty Đường sắt Việt Nam phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ theo đúng quy định pháp luật và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Trước đó, vào giữa tháng 1/2026, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đã có Tờ trình số 218/TTr-ĐS gửi Thủ tướng Chính phủ về việc giao cơ quan chủ quản và bố trí nguồn kinh phí đầu tư Dự án “Xây dựng Tổ hợp Công nghiệp đường sắt”.
Tại Tờ trình này, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định giao Tổng công ty Đường sắt Việt Nam – doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ – làm đơn vị chủ quản thực hiện Dự án; triển khai theo hình thức đầu tư công với 100% vốn nhà nước, đồng thời bố trí nguồn kinh phí để thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư và triển khai Dự án theo quy định pháp luật.
Được biết, Dự án đầu tư xây dựng Tổ hợp Công nghiệp đường sắt đặt mục tiêu lắp ráp trong nước và từng bước nội địa hóa phương tiện đối với đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị, tiến tới làm chủ toàn bộ công tác vận hành, bảo trì, đồng thời từng bước sản xuất một số linh kiện, phụ tùng thay thế cho đường sắt tốc độ cao.
Dự án cũng được xác định là địa điểm tiếp nhận chuyển giao công nghệ, đầu tư máy móc, thiết bị và sản xuất đầu máy, toa xe cho đường sắt quốc gia có tốc độ khai thác dưới 200 km/h; đồng thời mua thiết kế và tổ chức sản xuất toa xe EMU cho đường sắt đô thị. Bên cạnh đó, Tổ hợp sẽ bố trí các phân khu chức năng thực hiện sửa chữa lớn đối với toàn bộ phương tiện, thiết bị đường sắt.
Về phạm vi đầu tư, Dự án dự kiến có quy mô sử dụng đất khoảng 250 ha, triển khai tại khu vực thuộc địa bàn xã Chuyên Mỹ và xã Ứng Hòa, TP. Hà Nội.
Về quy mô đầu tư, Tổ hợp Công nghiệp đường sắt được quy hoạch với khoảng 25 phân khu chức năng, bao gồm các dây chuyền lắp ráp, sửa chữa, chế tạo linh kiện, phụ tùng phương tiện đường sắt, cùng hệ thống trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm thử nghiệm, đào tạo và các hạng mục phụ trợ đồng bộ khác, đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn của ngành đường sắt.
Về hình thức đầu tư, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức thực hiện Dự án theo hướng đầu tư xây dựng và vận hành Tổ hợp Công nghiệp đường sắt bằng nguồn vốn đầu tư công; đồng thời phối hợp với các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt, phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm phục vụ hoạt động của Tổ hợp.
Dự án được xác định có tổng mức đầu tư khoảng 17.509 tỷ đồng, chưa bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng và san lấp mặt bằng. Trong đó, Giai đoạn I dự kiến bố trí 7.411 tỷ đồng, triển khai trong giai đoạn 2026 – 2028; Giai đoạn II có quy mô vốn khoảng 10.098 tỷ đồng, thực hiện trong giai đoạn 2031 – 2032. Nguồn vốn thực hiện Dự án là đầu tư công với 100% vốn nhà nước.
Về tiến độ thực hiện, tổng thời gian triển khai Dự án dự kiến khoảng 3 năm. Cụ thể, giai đoạn chuẩn bị đầu tư và hoàn thiện thủ tục pháp lý kéo dài từ 9 – 12 tháng; giai đoạn thiết kế kỹ thuật, xin phép xây dựng và tổ chức đấu thầu khoảng 6 – 9 tháng.
Sau đó, Tổng công ty sẽ tổ chức thi công xây dựng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn I dự kiến trong 18 tháng, tiếp đến là lắp đặt máy móc, thiết bị trong khoảng 8 tháng, trước khi hoàn thiện và đưa vào vận hành trong thời gian khoảng 3 tháng.