Toàn cảnh đầu tư
Gỡ điểm nghẽn cho các dự án điện gió tỷ USD
Thế Hải - 05/06/2026 08:05
Việt Nam đã hình thành quy mô công suất hơn 6.000 MW điện gió trên bờ, nhưng chưa có bất kỳ dự án điện gió ngoài khơi nào được phê duyệt, triển khai, đi vào vận hành.
Phát triển điện gió là xu thế không thể đảo ngược. Ảnh: Đức Thanh

Tiềm năng lớn về điện gió ngoài khơi

Nhu cầu điện phục vụ tăng trưởng kinh tếtiêu dùng ngày càng gia tăng, trong khi cơ cấu nguồn điện huy động vẫn phụ thuộc nhiều vào nhiệt điện than - chiếm áp đảo trên 50% tổng sản lượng điện tiêu thụ toàn quốc. Việc phát triển nguồn điện sạch như năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió) sẽ giúp Việt Nam đa dạng các loại nguồn điện và chủ động hơn trước những biến động về năng lượng.

Chia sẻ trước thềm Hội nghị Năng lượng gió khu vực châu Á - Thái Bình Dương 2026 (APAC Wind Energy Summit 2026) dự kiến diễn ra từ ngày 9 đến 11/6/2026 tại Hà Nội, các chuyên gia năng lượng chỉ ra thời cơ thu hút đầu tư cực lớn của lĩnh vực điện gió tại Việt Nam.

Ông Ngô Tiến Đạt, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Suzlon Energy (Ấn Độ) đánh giá, Việt Nam hiện nằm trong nhóm thị trường có nền tảng điện gió khá tốt tại châu Á - Thái Bình Dương.

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ nhờ cơ chế FIT trước năm 2021, Việt Nam đã hình thành quy mô công suất hơn 6.000 MW điện gió trên bờ, nhưng đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có bất kỳ dự án điện gió ngoài khơi nào được phê duyệt, triển khai, đi vào vận hành.

Sốt ruột trước thực tế trên, Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh đã dành ưu tiên đặc biệt cho phát triển năng lượng tái tạo, mục tiêu tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) trong cơ cấu nguồn điện lên khoảng 28 - 36% vào năm 2030 và định hướng đến năm 2050 sẽ đạt mức ấn tượng 74 - 75%.

Theo đó, đến năm 2030, nguồn điện gió trên bờ và gần bờ vào khoảng 26.066 - 38.029 MW; điện gió ngoài khơi 6.000 - 17.032 MW (vận hành giai đoạn 2030 - 2035); điện mặt trời 46.459 - 73.416 MW. Với mục tiêu này, nếu nhìn rộng ra các nước trong khu vực (ngoại trừ Trung Quốc và Ấn Độ), Việt Nam có thể coi là nước dẫn đầu, cả về điện gió trên bờ và ngoài khơi.

Việt Nam đang ở thời điểm tốt để thúc đẩy mạnh mẽ các Dự án năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió. Vì vậy, cần có chính sách rõ ràng về cấp phép Dự án, khung giá bán điện, đặc biệt là mẫu hợp đồng mua bán điện (PPA).

- Ông Alessandro Antonioli, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Copenhagen Infrastructure Partners (CIP)

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) cho rằng: “Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi rất tốt, khoảng 6 GW, phần lớn là điện gió sử dụng móng cố định vì thềm lục địa khá nông, chi phí đầu tư thấp hơn so với các nước phải dùng móng nổi như Hàn Quốc, Nhật Bản”.

Đối với điện gió trên bờ, mục tiêu 26.066 - 38.029 MW, theo ông Thắng, là rất tham vọng, nhưng sẽ làm được, nếu Việt Nam có chính sách thông suốt và cơ chế thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa, cũng như kết hợp với khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Nhu cầu điện của Việt Nam đã hình thành quy mô công suất hơn 6.000 MW điện gió trên bờ trong năm nay và nhiều năm nữa còn tăng mạnh để phục vụ mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nên điện gió đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong cơ cấu năng lượng. Theo ước tính của các cơ quan quản lý và tổ chức nghiên cứu, tại Việt Nam, muốn tăng trưởng 1% thì tăng trưởng điện phải gấp 1,5- 2 lần.

Loay hoay hút vốn ngoại

Đặc thù của mỗi dự án điện gió ngoài khơi là vốn lớn, lên tới hàng tỷ USD. Việt Nam cũng là một thị trường mới, các nhà đầu tư sẽ đánh giá rủi ro cao hơn so với một thị trường đã trưởng thành. “Điện gió ngoài khơi là một ngành công nghiệp mới ở nước ta và ở giai đoạn đầu thì không thể rẻ. Tùy theo vùng Bắc - Trung - Nam, suất đầu tư cho một dự án điện gió ngoài khơi sẽ dao động khoảng 4 - 4,5 triệu USD/MW”, ông Thắng cho hay.

Vì thế, để hút vốn FDI, các chuyên gia cho rằng, khi xây dựng chiến lược điện gió ngoài khơi, bao gồm cơ chế giá, phải đưa vào nhiều mục đích như cung ứng điện, phát triển ngành công nghiệp, chiến lược năng lượng, khả năng chịu đựng của nền kinh tế, của xã hội. 

Từ góc nhìn của nhà đầu tư từng triển khai nhiều dự án tại Nhật Bản, Đài Loan, Australia, ông Alessandro Antonioli, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Copenhagen Infrastructure Partners (CIP) - tập đoàn năng lượng tái tạo của Đan Mạch chia sẻ, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ về gió nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên ưu đãi với tốc độ gió cao, chất lượng gió ổn định, đường bờ biển dài.

Yếu tố tạo nên sự hấp dẫn với các nhà đầu tư còn đến từ nhu cầu nội địa. Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng sản xuất từ châu Âu, Mỹ sang Việt Nam đòi hỏi nhu cầu năng lượng lớn và ngày càng xanh hóa, yêu cầu giảm phụ thuộc vào nhiệt điện. Theo ông Alessandro Antonioli, nếu có chính sách hỗ trợ, khung thương mại rõ ràng và nâng cao chuỗi cung ứng địa phương, sẽ kéo được các nhà đầu tư bỏ vốn.

Ông Nguyễn Tuấn, Trưởng ban Thương mại, Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) khẳng định, phát triển điện gió là xu thế không thể đảo ngược. Điều này càng cấp bách hơn khi các xung đột địa chính trị trên thế giới, như tại Trung Đông, ảnh hưởng rất nhiều tới chuỗi cung ứng năng lượng.

Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm nay và nhiều năm tới, rõ ràng, nguồn điện gió ngoài khơi sẽ giúp mang lại quy mô công suất điện lớn cho Việt Nam. Điện gió nói chung, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, không phải là loại hình năng lượng rẻ, nhưng trên thế giới, nhiều quốc gia đã đầu tư. “Bộ Công thương cũng nên xem xét lại mức giá, có tính đến lạm phát, đứt gãy chuỗi cung ứng, hay lãi suất để nhà đầu tư có thể triển khai thông suốt”, ông Tuấn nói.

Cùng với đó, thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa gắn với cơ chế giá phù hợp, tối ưu hóa để làm giảm giá thành. Khi triển khai các dự án điện gió ngoài khơi đồng nghĩa với việc củng cố chuỗi cung ứng. Theo ông Tuấn, ngành công nghiệp điện gió, dịch vụ và trang thiết bị cho điện gió ngoài khơi là một ngành công nghiệp khổng lồ, mang lại lợi ích to lớn cho đất nước.

Thời điểm này, cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án điện gió ngoài khơi đầu tiên, để có cơ sở tham chiếu cho các dự án sau này. Theo tính toán của GWEC, khi một thị trường phát triển được từ 3 đến 4 GW (tương đương 3.000-4.000 MW) điện gió ngoài khơi, thì giá sẽ giảm rất nhanh. Thực tế từ các thị trường đã trưởng thành với nhiều dự án điện gió ngoài khơi tại châu Âu hay Đài Loan đã cho thấy điều đó.

Gỡ nút thắt về giá, giữ chân nhà đầu tư

Thời gian qua, một số nhà đầu tư nước ngoài ngỏ ý muốn thực hiện dự án điện gió ngoài khơi tại Việt Nam, nhưng chưa dễ dàng bởi đang đối mặt nhiều rào cản liên quan đến hợp đồng mua bán điện, bài toán giải tỏa công suất và đồng bộ hóa chính sách từ khâu cấp phép đến triển khai.

“Chúng tôi đã thấy sự đình trệ trong việc hoạch định chính sách 3 năm qua. Có rất nhiều kỳ vọng về các chính sách giải quyết các nút thắt cho hàng loạt dự án, nhưng điều này vẫn chưa thành hiện thực”, ông Alessandro Antonioli nêu thực tế.

Vì vậy, không nên để sự chậm trễ về chính sách, chậm gỡ bỏ rào cản… làm niềm tin của nhà đầu tư bị suy giảm.

Lo ngại khó kéo được nhà đầu tư bỏ vốn triển khai các dự án điện gió ngoài khơi cũng được ông Nguyễn Tuấn đề cập. Ông nhấn mạnh, mẫu hợp đồng mua bán điện (PPA) hiện nay rất khó để thu xếp vốn quốc tế, do thiếu các điều khoản cốt lõi như chuyển đổi ngoại tệ.

“Cần lưu ý rằng, các dự án điện gió ngoài khơi đều là những siêu dự án có quy mô hàng tỷ USD; nếu chính sách không đảm bảo khả năng vay vốn ngân hàng thì không thể nào triển khai được. Đây chính là một điểm nghẽn chính sách lớn”, ông Tuấn nói.

Đại diện PTSC cũng chỉ ra một rào cản khác nằm ở bài toán giải tỏa công suất. Theo ông, điểm nghẽn này không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực điện gió, mà là thách thức chung của toàn ngành.

Những điểm nghẽn về chính sách chưa được khơi thông không chỉ làm chậm tiến trình ra quyết định đầu tư, mà còn làm gia tăng đáng kể mức độ rủi ro, đặc biệt khi một dự án điện gió ngoài khơi thường cần 7-8 năm để hoàn thiện từ khâu chuẩn bị đến vận hành.

Bất kỳ sự thiếu chắc chắn nào về chính sách hay thủ tục đều có thể trở thành rào cản đáng kể đối với dòng vốn quốc tế vào lĩnh vực này.

Tin liên quan
Tin khác