Phát triển bền vững
Gỡ điểm nghẽn đất đai, vốn và logistics để nông nghiệp tăng trưởng
Linh Nguyễn - 05/10/2026 14:18
Đất đai, vốn, logistics, công nghệ và liên kết chuỗi vẫn là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để nông nghiệp chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị, sức cạnh tranh và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Điểm nghẽn từ đất đai đến logistics

Nông nghiệp Việt Nam đang cần một động lực tăng trưởng mới, khi dư địa mở rộng sản lượng không còn nhiều như trước. Dù xuất khẩu vẫn duy trì quy mô lớn, hiệu quả khai thác các nguồn lực như đất đai, công nghệ, chế biến, logistics và liên kết chuỗi vẫn còn hạn chế, khiến giá trị tạo ra chưa tương xứng với tiềm năng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có hơn 50.000 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, trong tổng số gần một triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD, song tốc độ tăng trưởng của ngành vẫn thấp hơn nhiều lĩnh vực khác.

Tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong GDP cũng có xu hướng giảm, từ 12,34% năm 2024 xuống 11,2% năm 2025 và dự kiến khoảng 10,38% trong năm 2026. 

Sự dịch chuyển này phù hợp với quá trình phát triển của nền kinh tế, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng của ngành thay vì tiếp tục dựa nhiều vào số lượng sản phẩm. Bài toán cần giải quyết không còn đơn thuần là sản xuất được bao nhiêu, mà là mỗi đơn vị đất đai, vốn và lao động có thể tạo ra bao nhiêu giá trị; sản phẩm có khả năng đi tới những thị trường nào và doanh nghiệp Việt Nam giữ được bao nhiêu giá trị trong chuỗi.

Dù pháp luật đã có quy định về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, quá trình triển khai trên thực tế còn nhiều vướng mắc, nhất là với doanh nghiệp muốn hình thành những vùng sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và tổ chức sản xuất theo chuỗi.

Để tạo bước chuyển về chất cho nông nghiệp, từng nguồn lực cần được kết nối trong một hệ thống thống nhất.

Quy mô sản xuất nhỏ, phân tán cũng khiến doanh nghiệp khó chuẩn hóa vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng đồng đều và đầu tư cơ giới hóa. Khi thị trường ngày càng yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn môi trường, những hạn chế này trở thành rào cản trực tiếp đối với khả năng mở rộng thị trường.

Liên kết trong chuỗi giá trị cũng chưa đủ chặt chẽ, Việt Nam còn thiếu những doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt, tổ chức vùng nguyên liệu và kết nối ổn định giữa nông dân, hợp tác xã, nhà máy chế biến với thị trường tiêu thụ. Việc phân chia lợi ích giữa các mắt xích chưa thật sự hài hòa cũng khiến nhiều mối liên kết thiếu bền vững.

Theo ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, logistics tiếp tục là điểm nghẽn đáng kể. Hạ tầng nông thôn còn hạn chế làm tăng chi phí vận chuyển, trong khi hệ thống kho lạnh và chuỗi lạnh chưa được đầu tư đồng bộ.

Hạn chế này tác động rõ đến những mặt hàng có thời gian bảo quản ngắn như rau, hoa, trái cây. Chi phí logistics cao không chỉ làm giảm sức cạnh tranh mà còn thu hẹp khả năng tiếp cận những thị trường xa, nơi thời gian vận chuyển và điều kiện bảo quản có ý nghĩa quyết định.

Khả năng tiếp cận vốn cũng là vấn đề kéo dài đối với cả doanh nghiệp lẫn nông dân, đặc biệt khi đầu tư vào nông nghiệp thường có thời gian thu hồi vốn dài và chịu nhiều rủi ro từ thị trường, thiên tai, dịch bệnh.

Tại Hà Nội, những hạn chế này vẫn hiện hữu khá rõ trong thực tế sản xuất. Theo Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường, nông nghiệp Thủ đô còn phân tán, quy mô nhỏ; hạ tầng cho sản xuất, chế biến và bảo quản chưa đồng bộ, trong khi quỹ đất dành cho nông nghiệp ngày càng thu hẹp.

Giá trị phải được tạo ra từ toàn bộ chuỗi

Ngoài những điểm nghẽn bên trong, yêu cầu từ thị trường xuất khẩu đang tạo sức ép ngày càng lớn đối với doanh nghiệp nông nghiệp.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Nafoods Group cho rằng các thị trường lớn như châu Âu và Mỹ liên tục nâng tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong khi đó, nếu doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào một số thị trường, rủi ro sẽ tăng mạnh mỗi khi chính sách nhập khẩu hoặc yêu cầu kiểm soát chất lượng thay đổi.

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành khoảng 3,7 - 4% và kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trên 74 tỷ USD trong năm 2026, ngành nông nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế. Giá trị của sản phẩm phải được hình thành từ toàn bộ quá trình, từ vùng nguyên liệu, chế biến, bảo quản đến thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và phân phối.

Chế biến sâu vì vậy cần được đẩy mạnh để giảm xuất khẩu nguyên liệu và hạn chế phụ thuộc vào mùa vụ. Khi nông sản được chế biến thành nhiều dòng sản phẩm, thời gian bảo quản có thể kéo dài, phạm vi thị trường được mở rộng và giá trị thu về trên cùng lượng nguyên liệu cũng cao hơn.

Một dư địa khác nằm ở kinh tế tuần hoàn. Theo ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, nhiều phụ phẩm nông nghiệp có thể chuyển thành nguồn nguyên liệu mới thay vì bị coi là chất thải.

Rơm rạ, phụ phẩm trồng trọt và chăn nuôi có thể được sử dụng để sản xuất phân bón, thức ăn chăn nuôi, năng lượng hoặc các sản phẩm có giá trị khác. Cách tổ chức này vừa giảm lãng phí tài nguyên, vừa tạo thêm nguồn thu và giảm áp lực môi trường cho quá trình sản xuất.

Tại Hà Nội, định hướng những năm tới là phát triển trồng trọt theo hướng sinh thái, hiện đại, giá trị gia tăng cao và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thành phố sẽ tăng ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ giới hóa, chuyển đổi số và các quy trình canh tác tiên tiến, đồng thời mở rộng nông nghiệp hữu cơ và các mô hình giảm phát thải khí nhà kính.

Các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh cũng được định hướng gắn chặt hơn với chuỗi giá trị, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và nhu cầu thị trường. Trong chăn nuôi, thủy sản và thú y, mục tiêu là chuyển mạnh sang mô hình hiện đại, an toàn sinh học, bền vững và ứng dụng công nghệ cao hơn.

Để tạo bước chuyển về chất cho nông nghiệp, từng nguồn lực cần được kết nối trong một hệ thống thống nhất. Đất đai phải tạo điều kiện hình thành vùng sản xuất đủ lớn; vốn đi vào các dự án có khả năng nâng năng suất và giá trị; khoa học, công nghệ giải quyết những điểm yếu của sản xuất; logistics kéo gần vùng nguyên liệu với thị trường; còn doanh nghiệp giữ vai trò kết nối các mắt xích trong chuỗi.

Tin liên quan
Tin khác