| Lốp xe là một trong những nhóm hàng có nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại tại Mỹ. |
Cơ quan thương vụ Việt Nam tại Mỹ vừa đưa ra cảnh báo về một số mặt hàng có nguy cơ nằm trong “tầm ngắm” điều tra phòng vệ thương mại của Mỹ.
Quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Mỹ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ. Quy mô thương mại song phương không ngừng mở rộng, khẳng định vị thế của Mỹ là thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam.
6 tháng đầu năm, thương mại song phương.2 nước đạt 97,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 86,5 tỷ USD, tăng 22%, nhập khẩu từ Mỹ 11,2 tỷ USD, tăng 26,7% so với cùng kỳ.
Tuy nhiên, theo ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Mỹ, cùng với việc mở rộng hợp tác kinh tế, thị trường này cũng gia tăng sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam.
Không chỉ dừng lại ở các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp truyền thống, Mỹ đang đẩy mạnh điều tra chống lẩn tránh xuất xứ và siết chặt kiểm soát chuỗi cung ứng.
Theo Thương vụ Việt Nam tại Mỹ, nguy cơ phát sinh các vụ việc mới hiện hữu rõ rệt ở những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu "nóng" sang Mỹ như điện tử, thiết bị cơ khí, vật liệu xây dựng và năng lượng sạch.
Đầu tiên là nhóm gỗ và sản phẩm gỗ với tâm điểm là mặt hàng ghế sofa. Đây là là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam sang Mỹ nhưng những nằm gần đây có tốc độ tăng trưởng cao (năm 2025 đạt tới 3,4 tỷ USD, tăng 8,8% so với năm trước đó, chiếm 54,1% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Mỹ).
Với kim ngạch tăng nhanh, khả năng Việt Nam bị đưa vào diện điều tra là khá cao. Ngoài sofa, các sản phẩm khác như gỗ dán, tủ bếp, gỗ thanh và viền dải gỗ cũng đang bị theo dõi.
Tiếp đến, nhóm sản phẩm thép và sản phẩm kim loại, vốn đã được đưa vào danh mục cảnh báo lẩn tránh xuất xứ.
Thép là mặt hàng thường xuyên đối mặt với các vụ kiện phòng vệ thương mại. Trong đó, cáp thép dự ứng lực được đánh giá có rủi ro cao nhất khi chiếm 27,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ, tương đương 25,2 triệu USD trong năm 2025.
Các doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý hạn chế sử dụng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất mặt hàng này nhằm tránh nguy cơ bị điều tra chống lẩn tránh.
Bên cạnh đó, các sản phẩm như mặt bích bằng thép không gỉ, dây và cáp nhôm... cũng ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu cao và có nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại.
Ở nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng, kính nổi cũng đang trong tầm ngắm điều tra. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2025 đạt 92,2 triệu USD, tăng cao so với con số khiêm tốn 2,3 triệu USD của năm 2024.
Sản phẩm xơ sợi polyester có đường kính nhỏ hơn 3 denier (FDPSF) cũng nằm trong danh sách rủi ro cao. Dù trước đây Việt Nam từng được loại trừ khỏi phạm vi điều tra, nhưng đến năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã tăng 107,2%, chiếm 14,4% thị phần tại Mỹ, khiến áp lực bị áp dụng lại các biện pháp phòng vệ thương mại hoặc điều tra tự vệ toàn cầu vẫn hiện hữu.
Đối với mặt hàng lốp xe tải và xe khách, kim ngạch đã đạt 450,9 triệu USD năm 2025, tăng 24,5%. Với vị thế nhà cung cấp lớn thứ tư (chiếm 13% thị phần), các doanh nghiệp lốp xe trong nước cần theo dõi sát các biến động chính sách vì đây là mặt hàng vốn đã có tiền lệ bị Mỹ điều tra với các sản phẩm tương tự như lốp xe con từ năm 2021.
Cục Phòng vệ thương mại cảnh báo, xu hướng gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại trên phạm vi toàn cầu đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Hiện nhiều nền kinh tế đang sử dụng các công cụ điều tra phòng vệ thương mại; riêng Mỹ còn áp dụng các cơ chế như điều tra theo Mục 301, Mục 232 cùng nhiều biện pháp khác nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế và ngành sản xuất trong nước.
Mặc dù điều tra theo Mục 301 và các vụ điều tra phòng vệ thương mại là những công cụ pháp lý khác nhau, song đều phản ánh xu hướng các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt các yêu cầu đối với hàng hóa nhập khẩu.
Xu hướng tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu cũng khiến các thị trường nhập khẩu quan tâm nhiều hơn đến xuất xứ hàng hóa, nguồn gốc nguyên liệu, tỷ lệ giá trị gia tăng được tạo ra tại nước xuất khẩu cũng như tính minh bạch của chuỗi cung ứng.
Những yêu cầu này buộc doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro, kiểm soát chặt xuất xứ hàng hóa, gia tăng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và chủ động thích ứng với những thay đổi trong chính sách thương mại của các thị trường xuất khẩu.