Mệnh lệnh hành chính là chưa đủ?
Hiện đã có hơn 20 ngân hàng thương mại công bố giảm lãi suất huy động, phổ biến ở mức 0,5% đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; đồng thời giảm lãi suất cho vay có chọn lọc đối với các đối tượng ưu tiên sau chỉ đạo của Chính phủ và NHNN.
Giảm lãi suất trong bối cảnh hiện nay là vấn đề cấp thiết để cứu cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng. Bởi nếu lãi suất tiếp tục duy trì ở mức cao, tiệm cận đỉnh giai đoạn 2022-2023 như hiện nay, nợ xấu sẽ tăng nhanh chóng.
Dù vậy, trong bối cảnh chênh lệch giữa cho vay và huy động vẫn ở mức cao (1,5 triệu tỷ đồng), trong khi mùa cao điểm tín dụng đang đến gần (quý IV hàng năm), các ngân hàng vẫn rất khát vốn. Các gói tín dụng ưu đãi dù có ý nghĩa tích cực đối với tâm lý thị trường, song quy mô vẫn còn nhỏ so với tổng dư nợ hơn 20 triệu tỷ đồng và chỉ tiếp cận được các lĩnh vực ưu tiên. Vì vậy, lãi suất bình quân toàn thị trường chưa thể hạ nhiệt nhanh.
| Nhiều ngân hàng đã hạ lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ, song cần thêm các nguồn vốn khác để giảm lãi suất bền vững. Ảnh: Lê Toàn |
Quan trọng hơn, nếu lãi suất huy động giảm nhanh, dòng tiền gửi vào ngân hàng có nguy cơ đảo chiều. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank, thừa nhận khó khăn lớn nhất hiện nay là giảm lãi suất đầu vào nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của người gửi tiền. Nếu điều chỉnh không hợp lý, chính sách có thể tác động đến hành vi gửi tiền. Vì vậy, ông Tùng kiến nghị NHNN và các ngân hàng thương mại cần phối hợp chặt chẽ để xác định mức lãi suất đầu vào phù hợp.
Tuần trước, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng tại nhóm ngân hàng TMCP tư nhân nhỏ đã lên tới 9,5-10%/năm, gần chạm đỉnh giai đoạn 2022-2023, khiến tiền gửi trong hệ thống có hiện tượng dịch chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác.
Nhằm kéo giảm mặt bằng lãi suất, NHNN đã yêu cầu giảm ngay 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, tuyệt đối không chạy đua tăng lãi suất huy động; đồng thời giảm 1,5-2 điểm phần trăm/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Bên cạnh đó, các chế tài xử phạt cũng được đưa ra, gồm giảm hạn mức tăng trưởng tín dụng trong những tháng còn lại của năm nay, giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thấp hơn trong năm 2027 và áp dụng một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn mức quy định.
Dù vậy, các chuyên gia cho rằng, ngân hàng có thể dễ dàng “lách” quy định về lãi suất tiền gửi thông qua các hình thức tặng quà, khuyến mãi trực tiếp bằng tiền cho người gửi; đồng thời “lách” quy định về lãi suất cho vay thông qua các khoản phí hoặc bảo hiểm đi kèm.
Để lãi suất giảm bền vững, TS. Đào Minh Tú, Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng, về lâu dài, cần phối hợp các chính sách vĩ mô, chính sách tài chính và chính sách tiền tệ để đưa mặt bằng lãi suất về mức phù hợp với tỷ suất lợi nhuận của nền kinh tế và doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng nhu cầu đầu tư trong tương lai.
Thực hiện mục tiêu này cần có chính sách đồng bộ và phát triển các thị trường vốn. Nếu nhu cầu vốn dồn vào thị trường tín dụng, áp lực đối với hệ thống ngân hàng sẽ gia tăng. Ngân hàng muốn cho vay phải huy động được vốn, trong khi sức ép huy động có thể buộc các ngân hàng tăng lãi suất để thu hút tiền gửi. Khi các nguồn vốn khác phát triển và chia sẻ nhu cầu vốn của nền kinh tế, áp lực lên thị trường tiền tệ và tín dụng sẽ giảm, tạo điều kiện hạ lãi suất.
Vốn ngoại - nguồn bổ sung cần thiết, nhưng không thể thay thế
Một giải pháp khác để giảm áp lực lãi suất trong nước là tăng cường huy động vốn quốc tế. Thời gian gần đây, ngày càng nhiều ngân hàng tìm đến thị trường vốn quốc tế.
Tuần qua, Ngân hàng TMCP Nam Á đã chính thức ký kết thư ủy nhiệm khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 100 triệu USD.
Ngân hàng TMCP SHB cũng đã phát hành thành công trái phiếu quốc tế trị giá 229 triệu SGD tại Singapore, gồm 129 triệu SGD kỳ hạn 3 năm với lãi suất 2,9%/năm và 100 triệu SGD kỳ hạn 5 năm với lãi suất 3,15%/năm. Khoản phát hành được phòng ngừa rủi ro tỷ giá thông qua hợp đồng hoán đổi sang USD do Sumitomo Mitsui Banking Corporation Singapore Branch (SMBC) thực hiện.
Ngoài ra, HĐQT SHB cũng đã thông qua phương án vay và sử dụng vốn với Ngân hàng SMBC và 6 tổ chức tín dụng quốc tế khác. Theo đó, khoản vay do SMBC và các tổ chức tài chính khác cùng tham gia thu xếp có trị giá 340 triệu USD và có thể tăng thêm sau 3 năm kể từ khi xác lập thương vụ.
Trước đó, một loạt ngân hàng như HDBank, MB, VPBank, VIB… cũng đã huy động được hàng tỷ USD từ thị trường vốn quốc tế.
Không chỉ các ngân hàng thương mại, Chính phủ cũng đang xem xét phát hành trái phiếu quốc tế trở lại, đồng thời đẩy mạnh lộ trình nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư nhằm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường vốn toàn cầu.
Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I, xu hướng này phản ánh nỗ lực đa dạng hóa nguồn vốn của nền kinh tế. Tuy nhiên, dòng vốn quốc tế không hề rẻ, bởi ngoài lãi suất tham chiếu quốc tế và chênh lệch tín dụng, các tổ chức phát hành còn phải chịu thêm chi phí thu xếp, xếp hạng tín nhiệm và phòng ngừa rủi ro tỷ giá.
Dù vậy, việc Chính phủ và các tổ chức tài chính Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào thị trường vốn quốc tế là tín hiệu tích cực, không chỉ nhằm huy động vốn, mà còn góp phần xây dựng đường cong lợi suất tham chiếu quốc tế và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư.
Trao đổi với Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Phú Khôi, Tổng thư ký Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam nhấn mạnh, việc giảm sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng là rất cần thiết, trong đó có việc khai thác nguồn vốn quốc tế.
“Mặt bằng lãi suất quốc tế đang ở mức cao kỷ lục trong 5 năm qua, không quá thuận lợi cho việc vay vốn quốc tế. Tuy vậy, trong bối cảnh nguồn vốn trung và dài hạn trong nước khan hiếm, việc tăng cường vay vốn nước ngoài để giảm áp lực lên thị trường vốn trong nước là cần thiết”.
Lý giải việc các ngân hàng ưa chuộng hợp đồng vay vốn nước ngoài hơn phát hành trái phiếu quốc tế, ông Khôi cho hay, phát hành trái phiếu quốc tế thường mất từ 4-6 tháng và đòi hỏi tổ chức phát hành phải có xếp hạng tín nhiệm tốt. Nếu xếp hạng thấp, chi phí phát hành sẽ rất cao, khiến phương án này kém hiệu quả về kinh tế so với vay vốn.
Do lãi vay USD trên thị trường quốc tế đang ở mức cao, các chuyên gia phân tích dự đoán, trong năm 2027, tiền gửi vẫn là trụ cột vốn của hệ thống ngân hàng. Kênh vay nước ngoài chỉ là nguồn bổ sung, không phải động lực chính.
Nguồn vốn nước ngoài, bao gồm các khoản vay hợp vốn, hạn mức tín dụng quốc tế và các khoản tài trợ xanh, tuy chỉ đóng vai trò bổ trợ nhưng phần lớn là vốn dài hạn, giúp kéo dài kỳ hạn nguồn vốn của các ngân hàng.
Ông Phạm Phú Khôi cho rằng, nếu căng thẳng quốc tế hạ nhiệt và lạm phát giảm, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất, khi đó việc vay vốn quốc tế sẽ thuận lợi hơn. Trong khi chờ đợi xu hướng lãi suất USD rõ ràng hơn, kênh vay vốn quốc tế vẫn chỉ đóng vai trò bổ trợ cho thanh khoản trong nước.
Trong bối cảnh hiện nay, kênh vốn bổ trợ được kỳ vọng nhất đối với hệ thống ngân hàng là thị trường vốn, đặc biệt là trái phiếu. Ngoài ra, để giảm bớt áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng, các chuyên gia khuyến nghị Nhà nước có thể trực tiếp tài trợ nhiều hơn cho hạ tầng thông qua các khoản vay ưu đãi có bảo lãnh của Chính phủ. Bên cạnh đó, trái phiếu dự án, trái phiếu PPP và trái phiếu chính quyền địa phương có thể giúp huy động vốn ngay từ giai đoạn thi công.
Trước mắt, trong năm 2027, cơ cấu vốn sẽ chưa có thay đổi đáng kể và chưa có giải pháp nào giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu hụt nguồn vốn. Tuy nhiên, việc kiểm soát chặt tín dụng rủi ro, hạn chế tập trung vốn vào các khách hàng lớn và điều hướng dòng tiền vào các lĩnh vực ưu tiên sẽ phần nào ghìm bớt cuộc đua lãi suất.