Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Hải Phòng ước đạt 36,8 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 115,36 triệu tấn, tăng 11,65%.
Quy mô hàng hóa lớn đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hệ thống logistics của Thành phố. Bên cạnh năng lực hạ tầng, chi phí logistics, thời gian vận chuyển, lịch tàu, tuyến dịch vụ, thời gian lưu kho, năng lực khai thác cảng và mức độ chia sẻ dữ liệu đều tác động trực tiếp tới hiệu quả chuỗi cung ứng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu.
| Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Hải Phòng ước đạt 36,8 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 115,36 triệu tấn, tăng 11,65%. Ảnh: Lê Dũng |
Ở góc độ doanh nghiệp sản xuất, đại diện Công ty LG Display Việt Nam cho rằng tốc độ chuỗi cung ứng, độ tin cậy, khả năng kết nối và tính minh bạch là những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh.
LG Display Việt Nam hiện có tổng vốn đầu tư khoảng 6 tỷ USD, sử dụng khoảng 25.000 lao động và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 15 tỷ USD. Với quy mô sản xuất, xuất khẩu lớn, doanh nghiệp đặt vấn đề tăng cường phối hợp giữa nhà sản xuất, hãng tàu, doanh nghiệp logistics, Cảng Hải Phòng và chính quyền nhằm nâng cao hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng.
Tìm điểm phát sinh chi phí
Theo ông Lê Quang Trung, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam - CTCP (VIMC), chi phí logistics vẫn là một điểm nghẽn đối với năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Hải Phòng có nhiều điều kiện để phát triển logistics, song chi phí dịch vụ vẫn ở mức cao.
Do đó, theo ông Trung, việc tăng cường kết nối, trao đổi thông tin giữa các chủ thể trong chuỗi và xây dựng các giải pháp phù hợp là yêu cầu quan trọng để giảm chi phí logistics, qua đó hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu.
Một trong những vấn đề được đặt ra là phải đo được chi phí đang phát sinh ở khâu nào.
Ông Phí Trọng Đức, Quyền Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) - Chi nhánh Duyên hải Bắc bộ đề xuất các hiệp hội doanh nghiệp phối hợp xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chi phí logistics.
Trong đó, ba chỉ số cần được ưu tiên gồm thời gian vận chuyển từ nhà máy đến cảng; chi phí lưu kho; thời gian lưu bình quân của mỗi container. Việc lượng hóa các chỉ số này sẽ tạo cơ sở nhận diện những khâu đang làm tăng thời gian và chi phí, từ đó xác định giải pháp cải thiện phù hợp.
Theo ông Đức, cùng với việc lựa chọn các dự án FDI phù hợp định hướng phát triển, Hải Phòng cũng cần có cơ chế hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước để đáp ứng tiêu chuẩn của các đối tác nước ngoài, qua đó tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Kết nối dữ liệu để rút ngắn hành trình hàng hóa
Ở phía cung cấp dịch vụ, Cảng Hải Phòng đang đẩy mạnh kết nối các mắt xích cảng biển, vận tải thủy, vận tải đường bộ, kho bãi và depot.
Ông Lê Hồng Quân, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng cho biết, doanh nghiệp đang đầu tư hệ thống điều hành khai thác cảng Smart TOS, tăng kết nối dữ liệu giữa cảng, depot, hãng tàu và các đối tác logistics. Việc chia sẻ dữ liệu được kỳ vọng hỗ trợ điều hành khai thác, rút ngắn thời gian giao nhận và tăng khả năng kết nối giữa các khâu trong chuỗi cung ứng.
Theo ông Hoàng Minh Cường, Phó chủ tịch UBND TP. Hải Phòng, Thành phố có vị trí quan trọng trong chuỗi sản xuất, cung ứng và lưu chuyển hàng hóa của khu vực phía Bắc. Hệ thống cảng biển, đặc biệt là khu bến cảng nước sâu Lạch Huyện, có khả năng tiếp nhận tàu container trọng tải lớn và kết nối trực tiếp với các tuyến hàng hải quốc tế.
Cùng với hệ thống đường bộ cao tốc, Cảng hàng không quốc tế Cát Bi, đường thủy nội địa và tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đang được chuẩn bị đầu tư, hệ thống hạ tầng này tạo điều kiện tăng kết nối giữa cảng biển, công nghiệp, thương mại và logistics.
Một hướng kết nối nguồn hàng khác cũng đang được VIMC đề xuất là thúc đẩy vận tải, thương mại giữa Quảng Tây (Trung Quốc) và Hải Phòng thông qua Kênh đào Bình Lục.
Theo VIMC, khi kênh đào này đi vào khai thác, tuyến vận chuyển hàng hóa từ Quảng Tây ra biển có thể được rút ngắn, qua đó mở thêm khả năng kết nối giữa các trung tâm logistics, cảng biển phía Bắc Việt Nam với khu vực phía Nam Trung Quốc và các tuyến hàng hải quốc tế.
Với quy mô xuất khẩu 36,8 tỷ USD và hơn 115 triệu tấn hàng hóa qua cảng chỉ trong 7 tháng, dư địa giảm chi phí logistics của Hải Phòng không chỉ nằm ở việc tiếp tục đầu tư hạ tầng. Việc xác định được thời gian vận chuyển từ nhà máy đến cảng, chi phí lưu kho và thời gian lưu container sẽ giúp nhận diện cụ thể những mắt xích đang phát sinh chi phí, từ đó lựa chọn giải pháp phù hợp cho từng khâu của chuỗi cung ứng.