Đầu tư tài chính
"Kẹt" room tín dụng bất động sản, ngân hàng đẩy mạnh cho vay xây dựng, hạ tầng
Trần Mạnh - 09/06/2026 15:05
Tính đến cuối quý I/2026, tín dụng xây dựng và hạ tầng tăng tới 47% so với cùng kỳ năm ngoái, cho thấy sự dịch chuyển mạnh mẽ trong cơ cấu tín dụng của các ngân hàng.

Trong báo cáo chiến lược mới công bố, SSI Research cho biết, tính đến giữa tháng 5/2026, chênh lệch huy động và cho vay tiếp tục doãng rộng: tín dụng toàn hệ thống đã tăng 5,71%, tương đương khoảng 19% so với cùng kỳ, đạt quy mô khoảng 19,6 triệu tỷ đồng trong khi tổng tiền gửi toàn hệ thống chỉ tăng 2,98% so với đầu năm, tương đương hơn 17 triệu tỷ đồng.  

Diễn biến này khiến tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) toàn hệ thống tiếp tục duy trì trên 100%, phản ánh trạng thái thanh khoản vẫn ở mức tương đối căng thẳng. Theo SSI, đây cũng là lý do năng lực huy động vốn đang trở thành yếu tố mang tính quyết định mức độ phân hóa lợi nhuận giữa các ngân hàng trong ngắn hạn.

Đáng chú ý, cơ cấu tín dụng đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ sang lĩnh vực xây dựng và hạ tầng (tăng 47% so với cùng kỳ trong quý I/2026), bao gồm các dự án BT và công trình dân dụng. 

Cho vay chủ đầu tư dự án thương mại đang có xu hướng tập trung vào nhóm ngân hàng còn dư địa hạn mức tín dụng và có lợi thế huy động  tốt hơn. Cho vay mua nhà dự kiến sang năm 2027 mới phục hồi.

Trao đổi với báo Đầu tư điện tử - baodautu.vn- nhiều ngân hàng cũng cho biết đang trong tình trạng "cạn" room tín dụng bất động sản, giải ngân hạn chế không chỉ với chủ đầu tư mà còn với cả cá nhân vay mua nhà.

Dù thanh khoản hệ thống đang khá căng thẳng, song SSI Research vẫn kỳ vọng thanh khoản có thể cải thiện dần nhờ 4 yếu tố hỗ trợ:

Thứ nhất, dòng tiền quay trở lại hệ thống ngân hàng. Một phần lượng tiền mặt đang lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng có thể dần quay trở lại trong thời gian tới. Trong đó, các điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh được xem là yếu tố hỗ trợ cho xu hướng này. Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển dự kiến diễn ra từ từ và khó tạo ra sự cải thiện đột biến đối với thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn.

Thứ hai, nguồn thu từ xuất khẩu. Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại ở mức 13,8 tỷ USD, cho thấy dòng ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu chưa phục hồi đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng tiền gửi của khu vực doanh nghiệp. Xu hướng này sẽ dần được cải thiện từ cuối quý III/2026, khi hoạt động xuất khẩu có thể phục hồi theo yếu tố mùa vụ và từng bước chuyển hóa thành tích lũy tiền gửi bằng VND trong hệ thống ngân hàng.

Thứ ba, dòng vốn FDI. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi VND cao hơn đáng kể so với lãi suất cơ bản của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ở mức 3,50 - 3,75%, các doanh nghiệp FDI có thể có thêm động lực cơ cấu lại nguồn vốn, chuyển một phần nguồn tiền từ USD sang VND và gửi tại thị trường trong nước. Chênh lệch lãi suất thuận lợi này có thể góp phần bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, đồng thời hỗ trợ nguồn vốn liên quan đến khối FDI so với các năm trước.

Thứ tư, giải ngân đầu tư công. Giải ngân đầu tư công được đánh giá là động lực mang tính then chốt nếu tiến độ thực hiện được cải thiện. Khi dòng vốn giải ngân luân chuyển qua các nhà thầu và doanh nghiệp, sau đó quay trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, thanh khoản toàn hệ thống có thể được cải thiện đáng kể.

Quy mô kế hoạch giải ngân đầu tư công năm nay vào khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương gần 6% tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, tiến độ triển khai và khả năng hấp thụ vốn vẫn là những yếu tố chưa chắc chắn, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vật liệu xây dựng và giá năng lượng đang ở mức cao.

SSI Research cho biết, mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 tiếp tục duy trì quanh mức 15%. Tuy nhiên, room tín dụng vẫn là công cụ điều hành trọng yếu của Ngân hàng Nhà nước, khiến mức độ phân hóa giữa các ngân hàng ngày càng rõ nét hơn. 

Theo đó, những ngân hàng đáp ứng tốt yêu cầu chính sách có thể được nới thêm hạn mức tăng trưởng, trong khi các ngân hàng khác sẽ chịu nhiều ràng buộc hơn về dư địa tín dụng.

Dự báo, lãi suất huy động sẽ duy trì ở mặt bằng hiện tại trước khi có thể giảm nhẹ vào cuối năm. Trong bối cảnh chi phí vốn tăng nhanh hơn tốc độ phục hồi của lợi suất tài sản sinh lãi, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân dự kiến ghi nhận NIM giảm khoảng 10 điểm cơ bản.

Ngược lại, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước nhờ cơ cấu nguồn vốn ổn định và chi phí vốn thấp hơn có thể phục hồi NIM khoảng 8 điểm cơ bản. Trong xu hướng này, thu nhập phí từ tài trợ thương mại, bảo lãnh và thư tín dụng dự phòng (L/C) sẽ trở thành đòn bẩy lợi nhuận quan trọng khi nguồn thu từ lãi bị kìm hãm.

SSI Research dự báo nợ xấu (NPL) toàn hệ thống vào cuối năm 2026 sẽ ở mức 1,8%, tăng nhẹ so với mức 1,76% cuối năm 2025. Dư nợ của nợ nhóm 2 dự kiến tăng thêm 20 điểm cơ bản lên mức 1,4%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu có xu hướng giảm về khoảng 85%.

Mặc dù quy mô rủi ro đang mở rộng, báo cáo khẳng định tình hình hiện tại chưa đến mức kích hoạt rủi ro hệ thống.

Tuy nhiên, nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý 3 rủi ro trọng yếu: Điểm rơi rủi ro từ lãi suất thả nổi của các khoản vay mua nhà giải ngân giai đoạn 2023-2024 sẽ bắt đầu trong quý III/2026; áp lực tái cấp vốn của các chủ đầu tư bất động sản gia tăng khi dư nợ phân khúc này tăng từ cuối năm 2023, với kỳ hạn vay 2-3 năm; ảnh hưởng trung hạn từ việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể Hà Nội tới giá trị tài sản bảo đảm.

Tin liên quan
Tin khác