Theo GS-TS. Nguyễn Trọng Hoài, nguyên Phó hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế TP.HCM, chúng ta cần khai thác tối đa mọi dư địa để thực hiện mục tiêu đã đặt ra.
| GS-TS. Nguyễn Trọng Hoài, nguyên Phó hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế TP.HCM |
Chỉ trong vòng một tuần, cả Fed và ECB đã tăng lãi suất cơ bản. Động thái này tác động đến kinh tế Việt Nam ra sao, thưa ông?
Ngày 16/9/2026, Fed đã tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, đánh dấu đợt tăng lãi suất đầu tiên trong vòng 3 năm qua nhằm nỗ lực ngăn chặn tình trạng lạm phát tăng cao. Trước đó, ngày 10/9/2026, ECB quyết định tăng các lãi suất chủ chốt thêm 25 điểm cơ bản trong bối cảnh giá năng lượng tăng mạnh do căng thẳng tại Trung Đông khiến triển vọng lạm phát của Eurozone xấu đi. Đây là những phát súng đầu tiên kéo các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát.
Khi lãi suất tăng sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh và chi tiêu của người dân, hệ quả là cầu đầu tư và tiêu dùng giảm. EU, Hoa Kỳ là 2 đối tác thương mại, kinh tế lớn của Việt Nam; khi cầu ở 2 thị trường này chậm lại, tác động ngay tới hoạt động xuất khẩu - một trong 3 động lực tăng trưởng truyền thống của nước ta.
ECB và Fed tăng lãi suất trong nửa đầu tháng 9/2026 có thể chỉ là làn sóng đầu tiên. Trong bối cảnh các nước tham chiến ở Trung Đông chưa thể ngồi lại với nhau để tìm ra lối thoát thì xăng dầu và chế phẩm từ dầu mỏ sẽ tăng mạnh, nhất là khi mùa Đông đang tới gần, nhu cầu sử dụng năng lượng để sưởi ấm tăng. Khi đó, nhiều khả năng ECB, Fed và các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới đồng loạt tăng lãi suất. Việt Nam, dù có cố gắng không tăng lãi suất VND, nhưng cũng khó có thể giảm để hỗ trợ sản xuất và tiêu dùng.
Fed tăng lãi suất tác động ngay tới tỷ giá VND, kéo theo tác động tới nhiều cân đối kinh tế vĩ mô, đặc biệt là việc kiểm soát lạm phát, tác động tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026 nói riêng và giai đoạn 2026-2030 nói chung.
| Để tăng trưởng 2 con số, cần khai thác tối đa các động lực truyền thống như xuất khẩu, đồng thời phát huy những động lực mới. Ảnh: Lê Toàn |
Trong thời gian tới, tăng trưởng kinh tế của nước ta vẫn phụ thuộc vào xuất khẩu, thị trường nội địa và đầu tư công. Trước những tác động bất lợi từ bên ngoài, theo ông, đâu là những dư địa và động lực tăng trưởng mà Việt Nam cần tập trung khai thác để duy trì đà tăng trưởng?
Tăng trưởng kinh tế đâu chỉ dựa vào các động lực truyền thống và các động lực mới như khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh... mà còn nhiều dư địa chúng ta đã khai thác nhưng mới chỉ khơi mào. Ví dụ như xuất khẩu dịch vụ tăng trưởng quá thấp. Nếu như năm 2020, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ được 20,422 tỷ USD, thì đến năm 2025 mới đạt 30,307 tỷ USD, tức là chỉ bằng khoảng 6,4% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (475,041 tỷ USD). Trong nửa đầu năm nay, nhờ hoạt động du lịch tăng trưởng mạnh, xuất khẩu dịch vụ tăng hơn 20% so với cùng kỳ, nhưng mới chỉ đạt 17,419 tỷ USD, cũng chỉ bằng 6,5% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (266,514 tỷ USD) và còn quá khiêm tốn so với tiềm năng, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực ASEAN. Hiện tại, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ bình quân của các nước trong khu vực ASEAN tương đương 26% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa; ở các nước OECD, tỷ lệ này còn lên tới 39%.
Có thể nói, dư địa xuất khẩu dịch vụ của nước ta còn vô cùng lớn. Ngoài vận tải, viễn thông, du lịch... các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như logistics, tài chính, R&D, thiết kế, marketing, phần mềm... còn dư địa rất lớn. Những dịch vụ giá trị gia tăng cao ngày càng quan trọng khi điện tử và các ngành công nghệ cao mở rộng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Không tham vọng lớn, chỉ cần kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam bằng mức trung bình khu vực ASEAN thì kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đã gấp ít nhất 4 lần hiện nay và giá trị gia tăng thực chất còn cao gấp nhiều lần nữa. Đây chính là một trong những động lực tăng trưởng mới cần tập trung khai thác tối đa trong bối cảnh cầu hàng hóa trên thế giới giảm do lạm phát khiến xuất khẩu hàng hóa gặp trở ngại lớn trong thời gian tới.
Quy mô dân số sống ở nông thôn Việt Nam rất lớn, muốn tăng trưởng 2 con số nhất định không thể bỏ qua khu vực nông thôn, thưa ông?
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), dân số nông thôn Việt Nam hiện chiếm khoảng 61,4% tổng dân số cả nước, với khoảng 62,9 triệu người. Số liệu của Cục Thống kê cũng cho biết, khu vực nông thôn chiếm 60,7% lực lượng lao động, với gần 32 triệu người có thu nhập bình quân 7,9 triệu đồng/tháng. Khu vực nông thôn cũng chiếm trên 71% lao động phi chính thức; tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn hiện chiếm tới 11,5% lực lượng lao động trong khu vực, cao hơn nhiều so với khu vực thành thị (7,8%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực nông thôn trong nửa đầu năm nay đã lên tới 7,96%, tăng 1,27 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025.
Những số liệu trên cho thấy, nông thôn nước ta là thị trường hàng hóa và lao động khổng lồ. Còn rất nhiều dư địa cần phải khai thác tối đa để cùng với các động lực khác hợp lực lại thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn này theo đúng quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, là phát triển kinh tế gắn với xây dựng nông thôn văn minh, nông dân chuyên nghiệp.
Nhưng thưa ông, diện tích nông thôn đang dần thu hẹp do đô thị hóa?
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất thế giới. Cùng với quá trình đô thị hóa là tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị. Sự chuyển dịch lao động vào các đô thị, đặc biệt là siêu đô thị (Hà Nội, TP.HCM), đang gặp giới hạn do chi phí sống cao và việc làm phi chính thức năng suất thấp.
Để nông thôn trở thành một trong những động lực quan trọng trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số và đổi mới mô hình phát triển, tôi cho rằng, cần phải thực hiện di cư ngược. Cụ thể, cần tạo động lực di cư ngược qua phát triển hạ tầng nông thôn, khởi nghiệp, nông sản công nghệ cao/ xanh/ tuần hoàn, tạo cơ hội việc làm, khởi nghiệp từ nông thôn, nông nghiệp; phát triển kỹ năng số, thương mại điện tử, làm việc từ xa và đào tạo nghề gắn với nhu cầu từng vùng nông thôn. Đây là sự tăng trưởng cân bằng và bao trùm với mục tiêu là đưa nông thôn trở thành động lực tăng trưởng mới, thay vì chỉ là nơi cung cấp lao động phổ thông cho đô thị.
Ngoài xuất khẩu dịch vụ và “đánh thức” khu vực nông thôn, theo ông còn động lực nào nữa?
Đó là dư địa phát triển kinh tế bạc. Theo kết quả Điều tra biến động dân số của Cục Thống kê, năm 2025, dân số nước ta là 102,3 triệu người; tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã đạt 74,7 tuổi. Việt Nam đang trong thời kỳ già hóa dân số, được dự báo sẽ kéo dài trong vòng 15 năm, từ năm 2034 đến năm 2049.
Theo tính toán của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), số người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) của Việt Nam sẽ tăng từ 14,2 triệu người năm 2024 lên tới gần 21 triệu người năm 2034, đạt 27,5 triệu người vào năm 2044 và 38,5 triệu người vào năm 2074. Ngoài ra, trong giai đoạn 2024-2034, nhóm dân số ở độ “thượng thượng thọ” (từ 80 tuổi trở lên) của Việt Nam tăng từ 2 triệu người lên 15,4 triệu người.
Những con số này cho thấy già hóa dân số không chỉ đặt ra bài toán an sinh xã hội, mà còn mở ra một thị trường rất lớn. Khi số người cao tuổi tăng nhanh, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, nhà ở phù hợp, dịch vụ chăm sóc tại nhà, du lịch, giải trí, tài chính, bảo hiểm, thiết bị hỗ trợ và các sản phẩm dành riêng cho người cao tuổi cũng tăng theo. Nếu có chính sách và mô hình kinh doanh phù hợp, đây có thể trở thành một hệ sinh thái dịch vụ mới, tạo thêm việc làm, kích thích tiêu dùng và hình thành những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Quan trọng hơn, kinh tế bạc không nên chỉ được hiểu là cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi, mà phải nhìn ở cả phía cung. Một bộ phận lớn người cao tuổi vẫn còn sức khỏe, kinh nghiệm, chuyên môn và nhu cầu được làm việc, cống hiến. Nếu có cơ chế phù hợp để họ tiếp tục tham gia thị trường lao động, làm việc bán thời gian, tư vấn, đào tạo, khởi nghiệp hoặc truyền nghề, chúng ta vừa tận dụng được nguồn nhân lực giàu kinh nghiệm, vừa tạo thêm thu nhập cho chính nhóm dân số này.
Nhưng nhiều người lại cho rằng, già hóa dân số là “sức ỳ” của sự phát triển?
Tôi không nghĩ như vậy, mà phải có cái nhìn tích cực hơn. Cần phải biến gánh nặng do già hóa dân số thành động lực tăng trưởng kinh tế, cụ thể là phải khai thác lợi thế của kinh tế bạc như nhiều nước trên thế giới đang thực hiện. Theo đó, cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ nhằm mở rộng cơ hội việc làm, đào tạo lại và khởi nghiệp cho người cao tuổi, đồng thời chống phân biệt tuổi tác.
Thay vì chỉ nhìn già hóa dân số như một gánh nặng làm gia tăng chi phí an sinh, cần coi đây như một quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và thị trường. Nếu chủ động phát triển kinh tế bạc ngay từ bây giờ, Việt Nam có thể vừa đáp ứng tốt hơn nhu cầu của một xã hội đang già hóa, vừa tạo thêm một động lực tăng trưởng mới thông qua tiêu dùng, dịch vụ, đầu tư và việc làm. Đây cũng là một trong những dư địa cần được khai thác nếu muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn.