| AIRO hướng tới kết nối nội dung giải trí với thương mại trên nền tảng số |
Hàng tiêu dùng là cuộc chơi mà biên lợi nhuận luôn chịu sức ép từ giá nguyên liệu, chiết khấu phân phối và khuyến mãi. Sau khi bán 80% cổ phần mảng bánh kẹo cho Mondelēz International năm 2015, KIDO chuyển trọng tâm sang thực phẩm thiết yếu, trong đó có dầu ăn và ngành hàng lạnh. Năm nay, tập đoàn tiếp tục tái cấu trúc theo hướng tách bạch từng ngành hàng, với định hướng đưa Tường An trở lại sàn và niêm yết Thọ Phát.
Cùng lúc, KIDO bước sang một lĩnh vực có logic kinh doanh khác biệt. Ngày 29/9, tập đoàn công bố mô hình mới của AIRO, trong đó KIDO nắm 51% vốn. Thành lập từ năm 2025, AIRO trước đó chủ yếu ứng dụng AI vào phim quảng cáo và livestream bán hàng. Nay công ty mở rộng sang phim ngắn, chương trình giải trí, concert, quản lý tài năng, điện ảnh, thương mại và marketing bằng AI. Ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc KIDO, giữ chức Chủ tịch HĐQT AIRO.
Làm phim rẻ, hút khán giả vẫn khó
AIRO hợp tác với Yuguang Tongchen xây dựng cơ sở sản xuất phim ứng dụng AI tại Nam Ninh (Trung Quốc), phục vụ mục tiêu khoảng 200 phim ngắn mỗi năm từ năm 2027. Tuy nhiên, điều đáng xem hơn sản lượng là các con số kinh tế.
Theo KIDO, chi phí bình quân mỗi phim khoảng 10.000 - 20.000 USD, thấp hơn nhiều so với mức đầu tư có thể lên tới hàng chục tỷ đồng của một số phim truyền thống. Dù vậy, khác biệt về thời lượng, quy mô và yêu cầu sản xuất khiến phép so sánh chỉ mang tính tham khảo.
AIRO ước tính doanh thu bước đầu khoảng 25 tỷ đồng mỗi tháng, tương đương 300 tỷ đồng mỗi năm nếu duy trì trong đủ 12 tháng. Ông Nguyên nhấn mạnh kết quả thực tế còn phụ thuộc vào khả năng thị trường đón nhận sản phẩm.
Với tỷ giá giả định 26.000 đồng/USD, chi phí mỗi phim khoảng 260 - 520 triệu đồng. Nếu toàn bộ doanh thu 300 tỷ đồng đến từ 200 phim sản xuất trong cùng năm, doanh thu bình quân sẽ khoảng 1,5 tỷ đồng mỗi phim, bằng khoảng 2,9 - 5,8 lần chi phí sản xuất. Đây chỉ là phép tính minh họa, chưa phản ánh lợi nhuận.
Những con số này có vẻ hấp dẫn, nhưng còn nhiều ẩn số: chi phí đã bao gồm phát hành và thu hút người xem hay chưa; doanh thu là tổng giá trị khai thác hay phần AIRO thực nhận sau khi chia với đối tác; và được ghi nhận trong khoảng thời gian nào.
Chi phí thấp cũng chưa chắc là lợi thế riêng. Trong bài viết của Lianhe Zaobao ngày 28/6/2026, lãnh đạo một doanh nghiệp phim ngắn AI ở Trung Quốc cho biết giá nhận gia công đã giảm từ 4.000 xuống 800 nhân dân tệ mỗi phút, tương đương giảm 80%. Đây là giá gia công, không phải chi phí sản xuất, nhưng cho thấy sức ép cạnh tranh khi công cụ AI ngày càng phổ biến.
Nguồn cung cũng tăng nhanh. Theo thông tin được cơ quan quản lý Trung Quốc công bố ngày 17/9, trong tám tháng đầu năm 2026, khoảng 430.000 bộ phim ngắn nhiều tập được đưa lên các nền tảng, gấp 13 lần cả năm 2025; phim AI chiếm hơn 90%.
Lianhe Zaobao dẫn thông tin từ truyền thông Trung Quốc cho biết hơn 2.100 doanh nghiệp phim ngắn AI đã đăng ký trong năm 2026, tính đến thời điểm bài được đăng. Trong hơn 120.000 bộ phim ngắn AI đã lên nền tảng tính đến tháng 2/2026, chưa đến 150 bộ vượt 100 triệu lượt xem. Đây là ngưỡng nhận diện tác phẩm có sức hút lớn, không phải ngưỡng hòa vốn.
Đó là nghịch lý AIRO phải giải. AI giảm chi phí làm phim, nhưng không tự động giảm chi phí để phim được nhìn thấy. Thời gian của người xem là hữu hạn. Khi nguồn cung tăng nhanh hơn nhu cầu, khoản tiết kiệm từ AI có thể bị chính sự dư thừa nội dung nuốt mất.
Câu hỏi vì thế không chỉ là mỗi năm làm được bao nhiêu phim, mà là bao nhiêu phim được xem, hòa vốn và tiếp tục sinh tiền sau lần phát hành đầu.
200 phim chưa phải 200 tài sản
Nếu coi AIRO là một hãng sản xuất phim, mục tiêu 200 phim mỗi năm là chuyện năng suất. Nếu coi đây là doanh nghiệp sở hữu và khai thác tài sản trí tuệ trong lĩnh vực nội dung (Intellectual Property - IP), đó có thể là 200 lần thử để tìm ra vài tài sản sống lâu hơn một mùa phát hành. Một IP tốt còn sinh tiền từ phần tiếp theo, nhân vật, định dạng chương trình, quảng cáo, sản phẩm ăn theo hay concert.
KIDO cho biết AIRO định hướng sở hữu hoặc đồng sở hữu IP gốc, hợp tác với các đạo diễn để phát triển nguyên tác rồi mở rộng thành ngoại truyện. Đây là điểm đáng chú ý nhất của mô hình. Nếu chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng mà không giữ quyền khai thác, AIRO có nguy cơ thành một “xưởng gia công” mới: năng suất tăng, nhưng khách hàng nắm giữ phần lớn giá trị IP.
KIDO sở hữu 51% vốn AIRO, song không đồng nghĩa trực tiếp sở hữu 51% quyền đối với từng IP. Quyền khai thác và phân chia doanh thu còn phụ thuộc vào hợp đồng với đối tác.
Danh sách hợp tác cho thấy KIDO đã nhanh chóng kết nối những mắt xích quan trọng: Yuguang Tongchen ở công nghệ; Tencent thông qua WeTV, HTV, FPT Play và TV360 ở phân phối; Mango TV ở chương trình giải trí.
Nhưng có đối tác không đồng nghĩa nắm được đường ra thị trường. Hợp tác với Tencent được giới thiệu ở khâu phân phối, chưa có thông tin góp vốn. Với Mango TV, quyền sở hữu IP của AIRO đối với từng chương trình chưa được làm rõ. Yeah1 cũng đã hợp tác chiến lược với Mango TV, nên AIRO không phải đơn vị đầu tiên tiếp cận đối tác này.
Ở điện ảnh, AIRO dự kiến tham gia khoảng 30 - 40% vốn tùy dự án, trong đó có Chị chị em em 3, Án mạng Karaoke và Chiến bào. Tỷ lệ góp vốn cũng không đủ để xác định quyền sở hữu IP nếu chưa biết thỏa thuận cụ thể.
Khi công cụ AI phổ biến, thứ khó sao chép hơn là kho IP, dữ liệu khán giả, năng lực kể chuyện và mạng lưới phân phối. KIDO có thể đang đầu tư tạo đường vào thị trường nhiều hơn là xây dựng lợi thế công nghệ độc quyền. Giá trị của đường vào ấy phụ thuộc vào hợp đồng và khả năng biến người xem thành doanh thu.
AIRO vận hành ba logic kinh doanh: nội dung tạo nguồn thu từ phát hành, bản quyền và IP; marketing AI sống bằng hợp đồng; thương mại kết nối nội dung với bán hàng. Ba mảng có thể hỗ trợ nhau, nhưng vòng quay từ phim đến tiền vẫn cần chứng minh.
Nếu doanh thu marketing chủ yếu đến từ các thương hiệu KIDO, đó chưa phải bằng chứng về nhu cầu bên ngoài. Nếu doanh thu phim phụ thuộc vào vài nền tảng, AIRO vẫn chịu sức ép từ bên phân phối. Ba câu hỏi “ai sở hữu, ai phân phối, ai kiếm tiền” cần được trả lời ở từng sản phẩm.
IPO 2030 sẽ là phép thử của “nhà máy IP”
Theo ông Trần Lệ Nguyên, AIRO sẽ là một trụ cột mới của KIDO nhưng trước mắt hoạt động độc lập. Những năm đầu có thể cần đầu tư lớn trước khi doanh thu đủ trang trải hoạt động. Tập đoàn đặt mục tiêu đưa AIRO phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) năm 2030, nhưng chưa công bố tổng vốn đầu tư, mục tiêu lợi nhuận và cơ sở định giá.
Bài toán nằm ở việc chứng minh giá trị từng mảng. Nhà sản xuất nội dung được đánh giá qua kho phim, IP và khả năng tạo tác phẩm ăn khách. Marketing được nhìn qua doanh thu, biên lợi nhuận và khả năng giữ khách hàng. Thương mại được nhìn qua quy mô giao dịch và khả năng chuyển đổi người xem thành người mua. Nếu thiếu sự cộng hưởng, AIRO có thể bị xem như một tập hợp nhiều hoạt động kinh doanh hơn là một mô hình thống nhất.
Mốc 2030 vì thế là phép thử: KIDO có biến được một “nhà máy nội dung” thành một “nhà máy IP” hay không? Khi nhiều đơn vị cùng làm phim với chi phí thấp, giá trị nằm ở câu chuyện đáng kể, quyền sở hữu, khả năng tiếp cận đúng khán giả và khai thác nội dung nhiều lần. Đó là hướng đi KIDO đang đặt kỳ vọng vào AIRO.