| Nghiên cứu khoa học ở phòng thí nghiệm tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Đại học Quốc gia Hà Nội |
Từ khát vọng phát triển đến yêu cầu cấp bách về chiến lược nhân tài quốc gia
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong những năm tới. Trong đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực cốt lõi để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng mới cho nền kinh tế.
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn, mà là con đường tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt nhấn mạnh bài toán nguồn nhân lực là nhiệm vụ mang tính căn cơ, lâu dài và cần bắt tay thực hiện ngay từ bây giờ. Theo đó, nếu muốn 10 năm tới có đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, thì ngay từ hôm nay, phải xác định sẽ đào tạo ai, đào tạo ngành gì, khoa học cơ bản nào và theo mô hình nào.
“Để tạo nền tảng tri thức và nhân lực cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cần có chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia và trí thức người Việt Nam ở trong và ngoài nước; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, kết nối hiệu quả mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo.
Kết quả rà soát của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, hiện có 10 luật, 12 nghị định và 6 quyết định của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh các chính sách thu hút, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ. Hệ thống chính sách này quy định các cơ chế tiền lương và đãi ngộ được thiết kế theo hướng linh hoạt, cạnh tranh hơn nhằm tạo sức hút với đội ngũ nhân tài, nhân lực chất lượng cao.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Nội vụ, chính sách còn phân tán, thiếu đồng bộ; chưa hình thành chiến lược quốc gia thống nhất về nhân tài; chưa có khung tiêu chí nhận diện, cơ chế phát hiện, tuyển chọn và trọng dụng hiệu quả.
Bên cạnh đó, Việt Nam chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân tài, chưa hình thành mạng lưới nhân tài quốc gia và mạng lưới nhân tài Việt Nam toàn cầu để kết nối khu vực công, khu vực tư, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và người Việt Nam ở nước ngoài.
Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trương Hải Long, dù Việt Nam đã có chính sách thu hút nhân tài, nhưng hiệu quả chưa như kỳ vọng, đặc biệt đối với đội ngũ chuyên gia cấp cao như tổng công trình sư, kỹ sư trưởng. Điểm nghẽn lớn trong thu hút nhân tài là thiếu nguồn lực tài chính và thiếu các nhiệm vụ cụ thể gắn với cơ chế thực hiện.
Bộ Nội vụ đang nghiên cứu cơ chế liên thông giữa khu vực công và tư, mở rộng chính sách thu hút nhân tài cho cả doanh nghiệp. Đồng thời, Bộ đề xuất huy động nguồn lực từ các quỹ đầu tư mạo hiểm và khu vực tư nhân, tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore, thay vì chỉ dựa vào ngân sách nhà nước.
Kiến tạo môi trường để người tài làm việc lớn
PGS-TS. Nguyễn Hoàng Long, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ Giao thông vận tải cho rằng, thu hút nhân tài không thể chỉ là một “thương vụ tuyển dụng”, hay cuộc cạnh tranh bằng tiền lương. Điều mà những nhà khoa học giỏi, chuyên gia công nghệ hàng đầu tìm kiếm là cơ hội tạo ra giá trị và được tham gia giải quyết những bài toán lớn của quốc gia.
“Người giỏi không trở về chỉ để có một vị trí công việc, mà để được góp sức vào những chương trình có tầm vóc như phát triển ngành bán dẫn, xây dựng hạ tầng số, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng mới, đường sắt tốc độ cao, đô thị thông minh hay các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu”, ông Long chia sẻ.
Theo ông Long, Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ việc mời chuyên gia tham gia các hội thảo, các đề tài ngắn hạn sang giao cho họ những “nhiệm vụ sứ mệnh”, có mục tiêu cụ thể, có thời gian thực hiện từ 3-5 năm và có quyền chủ động tương xứng. Đó cũng là cách mà nhiều quốc gia đã áp dụng để biến nhân tài thành động lực phát triển đất nước.
Còn PGS-TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) cho rằng, phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng các nhà khoa học trẻ phải được xem là ưu tiên chiến lược. Quan trọng hơn, cần tạo môi trường học thuật thuận lợi, trao cơ hội tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, tiếp cận hạ tầng hiện đại và mở rộng kết nối với các mạng lưới khoa học quốc tế.
NAFOSTED đang triển khai Chương trình Nghiên cứu sinh xuất sắc (VREF) nhằm phát hiện, tuyển chọn và hỗ trợ những nghiên cứu sinh có tiềm năng nổi trội trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên. Mục tiêu cuối cùng là hình thành đội ngũ nghiên cứu trẻ có năng lực hội nhập quốc tế và làm chủ các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Theo đó, một gói hỗ trợ từ 5-20 tỷ đồng cho một nhóm nghiên cứu mũi nhọn có thể tạo hiệu quả lớn hơn nhiều so với việc phân tán nguồn lực cho hàng chục nhiệm vụ nhỏ lẻ...
Mở cửa đón chất xám toàn cầu
Hiện có hàng trăm ngàn người Việt Nam đang học tập, nghiên cứu và làm việc tại các viện nghiên cứu, trường đại học, tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Đây là nguồn lực vô cùng quý giá đối với quá trình phát triển khoa học công nghệ của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, việc kết nối với đội ngũ này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Ông Tyler McElhaney, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Apex Group cho rằng, Việt Nam có thể định vị mình là thị trường mới nổi năng động nhất ASEAN - nơi các kỹ sư công nghệ, nhà sáng lập, nhà quản lý và nhà đầu tư quốc tế mong muốn tham gia.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Việt Nam cần xây dựng lộ trình rõ ràng hơn nhằm thu hút và giữ chân nhân tài quốc tế, gồm tăng cường cung cấp thông tin, hướng dẫn bằng tiếng Anh; đẩy mạnh giải quyết thủ tục trên môi trường số; nâng cao sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong các lĩnh vực xuất nhập cảnh, lao động, thuế và đầu tư.
PGS-TS. Nguyễn Thiện Tống, Chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật hàng không cho rằng, muốn thu hút hiệu quả các nhà khoa học quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài, điều quan trọng không chỉ là chế độ đãi ngộ, mà còn là môi trường học thuật và điều kiện làm việc.
Bộ Nội vụ đang xây dựng Đề án Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài. Chỉ đạo nhiệm vụ này, Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà yêu cầu, Đề án cần đổi mới mạnh mẽ tư duy trong thu hút và trọng dụng nhân tài; xây dựng môi trường làm việc thuận lợi, trao quyền, bảo vệ người tài và có chế độ đãi ngộ phù hợp.
Phó thủ tướng đề nghị, Đề án tập trung vào 3-4 nhóm nhân tài trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, nhóm các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng mới như AI, dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, công nghệ số, hạ tầng số, an ninh mạng, bán dẫn, robot, tự động hóa, sản xuất thông minh, công nghệ lượng tử và các công nghệ nền tảng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Các nhóm khác là nhóm các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia công nghệ, nhà đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường, công nghệ y sinh, công nghệ nông nghiệp và công nghệ biển; nhóm các chuyên gia đầu ngành trong những lĩnh vực phục vụ quản trị quốc gia và phát triển bền vững như kinh tế, tài chính, môi trường, văn hóa và một số lĩnh vực đặc thù khác...
Phó thủ tướng yêu cầu, Đề án xây dựng cơ chế liên thông nhân tài giữa khu vực công và tư, giữa cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; đồng thời hình thành danh mục quốc gia về các ngành, lĩnh vực và nhiệm vụ trọng điểm cần ưu tiên thu hút nhân tài.
Có thể thấy, xây dựng chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài không đơn thuần là một chính sách về nhân sự, mà là chiến lược phát triển đất nước. Khi Việt Nam tạo được môi trường để người tài chọn đến, chọn ở lại và chọn cống hiến, đó cũng là lúc đất nước có thêm những “tổng công trình sư”, những nhà khoa học đầu ngành, những doanh nhân công nghệ và những thế hệ trí thức mới đủ sức đưa Việt Nam bước vào nhóm các quốc gia phát triển dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.
Theo ông McElhaney, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Apex Group, Việt Nam cần nghiên cứu triển khai loại thị thực “Remote Talent Visa” (thị thực dành cho nhân tài làm việc từ xa). Remote Talent Visa sẽ cho phép các chuyên gia, doanh nhân và nhà đầu tư đáp ứng đủ điều kiện được sinh sống tại Việt Nam trong khi vẫn tiếp tục làm việc từ xa cho doanh nghiệp hoặc khách hàng ở nước ngoài.
Hiện nay, rất nhiều nghề nghiệp có thể làm việc hoàn toàn từ xa như kỹ sư phần mềm, chuyên gia AI, nhà đầu tư, chuyên gia tư vấn hay các nhà sáng lập start-up. Nếu Việt Nam tạo điều kiện để nhóm chuyên gia này cư trú hợp pháp, rất có thể nhiều người trong số họ sẽ nhìn thấy cơ hội đầu tư hoặc xây dựng doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam.