Sau phiên họp chính sách kéo dài hai ngày, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) vừa công bố tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Ông Hồ Hữu Tuấn Hiếu, Trưởng nhóm Chiến lược Đầu tư, Trung tâm phân tích và Tư vấn đầu tư của SSi Research cho rằng, việc Fed vừa tăng lãi suất vừa phát đi dự báo về một đợt tăng lãi suất tiếp theo vào cuối năm 2026 không gây bất ngờ mà đã được thị trường dự báo từ trước.
Dự báo, lãi suất trung bình năm 2027 vọt lên 4,1% (so với 3,6% hồi tháng 6); lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ 10 năm tăng trở lại mốc quanh 5%. Việc Fed phát tín hiệu về thắt chặt kéo dài là thông điệp mang tính bất lợi chung cho thị trường chứng khoán toàn cầu và các thị trường mới nổi.
Đối với thị trường Việt Nam, các chuyên gia cho rằng, việc Fed tăng lãi suất sẽ khiến câu chuyện cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô càng trở nên gay gắt. Trên thực tế, dù Việt Nam đã nỗ lực kích hoạt các động lực tăng trưởng khác thay vì phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, song tình hình vẫn còn chuyển biến chậm.
Theo ông Hiếu, do tác động của Fed, mặt bằng lãi suất trong nước khó có khả năng giảm mà dự báo sẽ ổn định ở mặt bằng hiện tại trong thời gian dài hơn để làm bệ đỡ cho các công cụ chính sách khác.
Thực tế, không chỉ Fed tăng lãi suất mà ngày 10/9 vừa qua, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng đã quyết định tăng các mức lãi suất chủ chốt thêm 0,25 điểm phần trăm.
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng đang có phiên họp chính sách và có thể sẽ đưa ra quyết định nâng lãi suất trong phiên họp này (diễn ra ngày 17 và 18/9).
Như vậy, có thể thấy, mặt bằng lãi suất toàn cầu đang tăng lên. Ông Trần Ngọc Báu, CEO WiGroup cho rằng, lãi suất chính sách ngắn hạn của các ngân hàng trung ương chỉ tác động đến thanh khoản liên ngân hàng và vốn siêu ngắn. Điều đáng lo nhất, là lợi suất trái phiếu Chính phủ dài hạn đang tăng lên. Đây mới là yếu tố quyết định chi phí vốn đầu tư nền kinh tế hiện nay.
Tại Việt Nam, theo các chuyên gia, áp lực với lãi suất và tỷ giá vẫn đang rất lớn. Nhu cầu vốn đang tăng nhanh trong khi huy động vốn tăng chậm vẫn là bài toán khó giải. Dù số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đến ngày 22/8/2026 cho thấy huy động vốn đang tăng nhanh hơn tăng trưởng tín dụng (huy động tăng 8,77% trong khi tín dụng tăng 8,38%).
Dù vậy, các chuyên gia cho hay, nếu tính tổng cả ngoại tệ (USD) thì huy động toàn hệ thống đến đầu tháng 9 chỉ tăng 8,33%, trong khi tín dụng tăng gần 10%. Nói cách khác, tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động khoảng 1,7%.
Chênh lệch huy động và cho vay tiếp tục gây áp lực lên thanh khoản, đồng nghĩa lãi suất sẽ khó hạ nhiệt. Chưa kể, USD tăng khiến nhà điều hành phải duy trì mặt bằng lãi suất VND hấp dẫn, tránh tâm lý đầu cơ ngoại tệ.
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, Fed tăng lãi suất sẽ gây áp lực lên tỷ giá, dòng vốn và dư địa điều hành lãi suất tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
“Khi áp lực từ đồng USD gia tăng, dư địa giảm lãi suất trong nước vốn đã hạn hẹp có thể tiếp tục bị thu hẹp do chênh lệch lãi suất giữa VND và USD”, ông Bình cho biết.
Ông Nguyễn Đức Hải, Giám đốc Đầu tư cấp cao tại Công ty TNHH Quản lý quỹ Manulife Investment Việt Nam cho rằng, lãi suất tiết kiệm VND quanh mức 8,5% - 9,5%/năm vừa qua đã kích thích người dân gửi tiền. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất khó giảm sâu do cầu vốn đầu tư 5–10 năm tới rất lớn.
Theo các chuyên gia, thời gian qua, áp lực tỷ giá hạ nhiệt, NHNN mạnh tay mua vào USD khiến dự trữ ngoại hối phục hồi lên xấp xỉ 86 tỷ USD, giúp tăng bộ đệm điều hành tỷ giá, niềm tin cho nhà đầu tư quốc tế. Dù vậy, nếu USD tiếp tục tăng giá, Việt Nam sẽ đứng trước áp lực kép tỷ giá, lãi suất.
Để giảm áp lực lên thanh khoản, lãi suất, tỷ giá, các chuyên gia cho rằng, yếu tố then chốt cho ổn định vĩ mô là kỷ luật chi tiêu đầu tư: chỉ phê duyệt các dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, tạo hệ số nhân lớn; tránh lãng phí vốn vào các dự án không sinh lời (đường vắng người đi, các dự án điện bị vướng thủ tục).