Tại hội thảo tham vấn chuyên gia về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt: Chính sách đột phá và không gian phát triển cho TP.HCM trong kỷ nguyên mới, do UBND TP.HCM phối hợp Đại học quốc gia TP.HCM tổ chức ngày 4/4, nhiều chuyên gia cho rằng việc xây dựng một đạo luật riêng không chỉ nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hiện hữu, mà còn tạo nền tảng thể chế dài hạn để TP.HCM phát huy vai trò đầu tàu, dẫn dắt tăng trưởng cả nước.
| Luật Đô thị đặc biệt được kỳ vọng không chỉ giải quyết các điểm nghẽn nội tại mà còn mở ra cơ hội phát triển mới cho TP.HCM trong dài hạn. Ảnh: Lê Toàn. |
TP.HCM cần thể chế ổn định, lâu dài
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Trần Hoàng Ngân đánh giá kết quả kinh tế quý I/2026 của TP.HCM là tín hiệu tích cực trong bối cảnh Thành phố vừa thực hiện hợp nhất, sáp nhập và tiếp tục triển khai các cơ chế đặc thù.
Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,27%, nếu không tính dầu khí đạt 8,58%, cao hơn mức bình quân cả nước; riêng TP.HCM đóng góp hơn 2 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung 7,83% của cả nước. Điều này cho thấy vai trò và sức ảnh hưởng lớn của Thành phố trong nền kinh tế cả nước.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân phân tích, thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều Nghị quyết dành riêng cho Thành phố, từ Nghị quyết 01 (1982), Nghị quyết 20 (2012), Nghị quyết 16 (2012) đến Nghị quyết 31 (2022).
Tuy nhiên, trong tất cả các văn bản này đều có chung một nhận định: TP.HCM đã nỗ lực phát huy tiềm năng và giữ vững vị thế đầu tàu, nhưng Thành phố vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng và lợi thế vốn có. Theo ông Ngân, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến trung ương nhận xét như vậy là Thành phố cần một thể chế tương thích.
Vừa qua, Quốc hội cũng ban hành các Nghị quyết đặc thù cho TP.HCM các cơ chế đặc thù như Nghị quyết 54, Nghị quyết 98 hay Nghị quyết 260, song các chính sách này vẫn mang tính ngắn hạn và xử lý từng vấn đề cụ thể.
“Điều TP.HCM thực sự cần là một thể chế ổn định, lâu dài và đó là lý do cần thiết phải có một luật cho Thành phố”, ông Ngân nói.
Từ thực tiễn đó, PGS.TS Trần Hoàng Ngân đề xuất ba định hướng lớn cho Luật Đô thị đặc biệt. Trước hết, luật cần tập trung giải quyết tồn tại, vì vậy phải tổng kết việc triển khai các Nghị quyết 54, 98, 260 để đánh giá kỹ những vướng mắc mà các sở, ngành gặp phải.
Tiếp theo là mở đường cho các động lực tăng trưởng mới như kinh tế biển, logistics, khu thương mại tự do, công nghệ cao, trung tâm tài chính quốc tế và dịch vụ chất lượng cao. Đồng thời, luật cần thể chế hóa các chủ trương lớn của Bộ Chính trị về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và văn hóa, đưa các định hướng chiến lược vào khung pháp lý cụ thể.
GS.TS Vũ Minh Khương, Giảng viên Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore) cũng nhận định việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt là một cơ hội lịch sử để TP.HCM tạo bước đột phá, không chỉ cho Thành phố mà cho cả nền kinh tế Việt Nam.
Ông Khương đề xuất ba mục tiêu lớn, gói gọn trong 3 chữ “H” khi xây dựng Luật Đô thị đặc biệt. Đầu tiên là hy vọng. TP.HCM phải là biểu tượng hy vọng của cả đất nước; Thứ hai là Hội nhập. Thành phố sẽ là địa điểm các doanh nghiệp toàn cầu đặt đại bản doanh, áp dụng những cơ chế tốt nhất thế giới, khiến cả thế giới phải tìm đến để học hỏi kinh nghiệm phát triển; Thứ ba là hợp lực. Tức là tạo ra sự cộng hưởng theo công thức “1+1=11” giữa TP.HCM và các địa phương.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, luật cần chú trọng 5 kênh kiến tạo phát triển, bao gồm định vị TP.HCM là trung tâm AI, startup và tài chính xanh; tạo cộng hưởng phát triển vùng; thu hồi giá trị gia tăng từ đất đai để tái đầu tư; chuyển dịch nguồn lực sang các ngành công nghệ cao; và xây dựng Thành phố thành biểu tượng đổi mới sáng tạo.
Đặc biệt, ông Khương nhấn mạnh yêu cầu trao quyền tối đa cho TP.HCM trong thử nghiệm chính sách, cho phép luật có thể vượt qua các quy định chồng chéo, thiết lập cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho người dám đổi mới và mở rộng kết nối với các mạng lưới công nghệ toàn cầu.
Định vị TP.HCM trong không gian phát triển mới
PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường Đại học Kinh tế - Luật cho rằng Luật Đô thị đặc biệt phải bắt đầu từ việc định vị lại vai trò của TP.HCM trong cấu trúc phát triển quốc gia và toàn cầu.
Theo ông, Thành phố cần được xác định là trung tâm điều phối các nguồn lực chiến lược của vùng và cả nước, nơi hội tụ và phân bổ vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức theo các ưu tiên phát triển.
Đồng thời, TP.HCM phải trở thành hạt nhân của nền kinh tế tri thức, trung tâm khoa học công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, đóng vai trò cửa ngõ hội nhập và kết nối Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, Thành phố cần được định vị là trung tâm phát triển kinh tế tư nhân và doanh nghiệp quốc gia, đô thị có khả năng chống chịu cao trước biến đổi khí hậu, đô thị lấy con người và chất lượng sống làm trung tâm, đồng thời là không gian thử nghiệm thể chế và mô hình quản trị tiên phong…
Cùng quan điểm, PGS.TS Tô Văn Hòa, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng, luật phải được thiết kế riêng, đặc biệt với TP.HCM để đáp ứng sự phát triển của thành phố, cũng là đáp ứng sự phát triển của vùng và cả nước.
Từ đó, ông đề xuất cần xác định TP.HCM không chỉ là siêu đô thị đơn lẻ mà có vai trò quan trọng với vùng và quốc gia, phạm vi của luật cần bao trùm một hệ sinh thái chính sách toàn diện, trong đó các cấu phần lớn được liên kết bởi một logic phát triển thống nhất.
Cụ thể, định vị và xác lập rõ mục tiêu phát triển của TPHCM trong bối cảnh kỷ nguyên mới, ví dụ trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo và kết nối quốc tế có sức cạnh tranh khu vực.
Đồng thời, quy hoạch tổng thể và địa vị pháp lý của quy hoạch. Luật cần quy định về việc xây dựng quy hoạch tổng thể thành phố và bảo đảm quy hoạch có địa vị pháp lý đủ mạnh để thực sự dẫn dắt phát triển, không chỉ dừng ở chức năng quản lý không gian.
Trên nền tảng định vị đã nêu, PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình cho rằng, Luật Đô thị đặc biệt cho TP.HCM cần được xây dựng theo hướng tích hợp, toàn diện và có tính đột phá, trên cơ sở kế thừa và “nâng cấp” các cơ chế đặc thù đã được thí điểm trước đây.
Thay vì tiếp cận theo từng chính sách đơn lẻ, đạo luật này phải hình thành một khuôn khổ pháp lý thống nhất, ổn định và có tầm nhìn dài hạn, bao quát đầy đủ các trụ cột phát triển đã được định vị của một siêu đô thị hiện đại.
Các nội dung trọng tâm bao gồm quy hoạch tích hợp theo mô hình TOD, phát triển không gian ngầm và không gian tầm thấp, mở rộng cơ chế PPP, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, trao quyền chủ động về tài chính và tài sản công, đồng thời xây dựng thiết chế liên kết vùng và cơ chế thử nghiệm chính sách.
Theo ông Tình, có ba trụ cột mang tính nền tảng là trao quyền tự chủ thực chất cho Thành phố trong quản trị, từ tổ chức bộ máy đến quyết định các vấn đề về quy hoạch, đầu tư và tài chính; thiết lập cơ chế thử nghiệm thể chế (sandbox).
Cùng với đó là xây dựng một khung pháp lý có sức cạnh tranh quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, nhằm hiện thực hóa mục tiêu hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM.
“Nếu giải quyết tốt 3 trụ cột trên thì TP.HCM sẽ có một không gian phát triển mới hoàn toàn khác”, ông Tình nhấn mạnh, thêm rằng điều này đồng thời giúp TP.HCM vượt qua các điểm nghẽn cốt lõi về thể chế, hạ tầng, nguồn lực và liên kết vùng. Qua đó, giúp thu hút dòng vốn lớn, góp phần quan trọng trong việc nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng của TP.HCM.