Khoa học và Công nghệ
Mở khóa đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi "ngăn kéo"
Hữu Tuấn - 30/07/2026 10:42
Hàng ngàn kết quả nghiên cứu khoa học vẫn nằm trong "ngăn kéo" vì vướng thể chế, định giá tài sản trí tuệ và thiếu thị trường. Muốn khoa học trở thành động lực tăng trưởng, cần sớm tháo gỡ những "nút thắt" để rút ngắn hành trình từ phòng thí nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa.

Nhận diện rõ những nút thắt

Giữa nghiên cứu khoa học và thương mại hóa vẫn tồn tại một "thung lũng tử thần" với nhiều rào cản về thể chế, tài chính, định giá tài sản trí tuệ và phát triển thị trường công nghệ.

Báo cáo năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho thấy, phần lớn kết quả nghiên cứu hiện vẫn dừng ở giai đoạn hoàn thiện công nghệ, chuẩn bị đầu tư hoặc triển khai ban đầu. Trong khi đó, số công nghệ được làm chủ và sản phẩm thương mại hóa còn rất khiêm tốn.

Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng", Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cũng chỉ rõ, một trong những rào cản lớn của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là cơ chế khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm mới chưa đủ mạnh. Sự liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học còn lỏng lẻo.

Các chuyên gia mong muốn sớm có cơ chế thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Ảnh: P.V

Theo thống kê, tại các viện nghiên cứu và trường đại học, tỷ lệ sáng chế được thương mại hóa mới chỉ khoảng 3%, trong khi khoảng 75% vẫn dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ (TRL), tức mới hoàn thiện trong phòng thí nghiệm. Hơn một nửa số nhà khoa học cho rằng, cơ chế chia sẻ lợi ích từ chuyển giao công nghệ chưa đủ hấp dẫn để khuyến khích họ tiếp tục theo đuổi quá trình thương mại hóa.

Tại phiên họp chuyên đề rà soát việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chỉ đạo: "Chuyển mạnh sang tư duy lấy sản phẩm đầu ra, hiệu quả ứng dụng, khả năng thương mại hóa và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, công tác quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước làm thước đo hiệu quả".

Đại học Bách khoa Hà Nội là một ví dụ điển hình. Trường hiện sở hữu gần 150 bằng độc quyền sáng chế, nhưng phần lớn được hình thành từ các nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước và mới đạt mức độ sẵn sàng công nghệ TRL 3-4. Điều đó đồng nghĩa với việc nhiều sáng chế vẫn "ngủ" trong phòng thí nghiệm và rất khó chuyển giao theo hình thức cấp phép (licensing).

Theo GS-TS. Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, nhiều kết quả nghiên cứu đã có tiềm năng thương mại hóa nhưng vẫn thiếu những "mảnh ghép" quan trọng như hướng dẫn định giá tài sản trí tuệ, cơ chế thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) và nguồn lực để tiếp tục hoàn thiện công nghệ sau khi nhiệm vụ khoa học kết thúc.

Không chỉ ở các trường đại học, những rào cản tương tự cũng hiện hữu tại nhiều địa phương. TP.HCM sở hữu hệ sinh thái nghiên cứu năng động cùng mạng lưới viện, trường đông đảo, nhưng tỷ lệ thương mại hóa các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước mới chỉ khoảng 5%. Đáng chú ý, có tới 37% kết quả nghiên cứu đã sẵn sàng chuyển giao song không thể bước ra thị trường do vướng mắc trong định giá tài sản và thủ tục giao quyền sở hữu. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại rủi ro trong thực thi công vụ khi sử dụng ngân sách cũng làm chậm quá trình chuyển giao công nghệ.

Ở góc độ quản lý sở hữu trí tuệ, ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), chỉ ra 3 "nút thắt" cốt lõi gồm: thiếu chuẩn mực định giá tài sản trí tuệ; thiếu nguồn nhân lực và dữ liệu cho thị trường công nghệ; việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trên môi trường số, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Trong khi đó, các sàn giao dịch khoa học và công nghệ tuy đã được hình thành, nhưng chủ yếu mới làm chức năng giới thiệu sản phẩm hơn là tạo lập một thị trường giao dịch đúng nghĩa. Dữ liệu công nghệ chưa được chuẩn hóa, đội ngũ môi giới còn mỏng khiến khoảng cách giữa bên tạo ra công nghệ và doanh nghiệp có nhu cầu ứng dụng vẫn chưa thể thu hẹp.

Để sáng chế không còn "ngủ quên"

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến dây chuyền sản xuất không chỉ được đo bằng trình độ công nghệ, mà còn phụ thuộc vào chất lượng thể chế, mức độ phát triển của thị trường và khả năng chấp nhận rủi ro. Khi những mắt xích này chưa được kết nối, nhiều công trình nghiên cứu dù có giá trị khoa học vẫn khó chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ hoặc doanh nghiệp công nghệ.

Theo GS-TS. Lê Anh Tuấn, điều cấp thiết hiện nay là Chính phủ và các bộ, ngành sớm ban hành hướng dẫn đầy đủ về định giá tài sản trí tuệ cũng như quy trình thành lập doanh nghiệp khởi nguồn trong các cơ sở giáo dục đại học. Thực tế, không ít kết quả nghiên cứu đã tìm được doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư nhưng vẫn phải "đắp chiếu" vì thiếu hành lang pháp lý rõ ràng, đặc biệt trong tự chủ định giá tài sản trí tuệ và cơ chế phân chia lợi ích giữa các bên.

Ông Tuấn cho rằng, cần nhìn nhận đầu tư cho nghiên cứu theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Bên cạnh nguồn kinh phí cho nghiên cứu cơ bản, Nhà nước cần có cơ chế đặc thù về đất đai, tài chính, hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm thử nghiệm công nghệ và hợp tác công - tư; đồng thời thu hút doanh nghiệp, quỹ đầu tư và chuyên gia quốc tế cùng tham gia phát triển công nghệ.

Ở góc độ địa phương, ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM chia sẻ, muốn thúc đẩy thương mại hóa thì trước hết phải tháo gỡ nỗi lo pháp lý cho các đơn vị nghiên cứu.

Theo đó, cần xác định rõ giá trị tài sản trí tuệ để các đơn vị công lập có thể chủ động chuyển giao, góp vốn hoặc thương mại hóa mà không còn tâm lý e ngại trách nhiệm. Đồng thời, không nên tính phần vốn ngân sách đã đầu tư trước đó vào tỷ lệ vốn đối ứng của doanh nghiệp ở giai đoạn tiếp theo, qua đó khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn tham gia hoàn thiện và đưa công nghệ ra thị trường.

Một đề xuất đáng chú ý khác là lấy chi phí nghiên cứu và phát triển làm giá sàn pháp lý trong giai đoạn đầu để đẩy nhanh quá trình chuyển giao. Cùng với đó là rút ngắn đáng kể thủ tục giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ. Thay vì mất từ 1 đến 2 năm như trước, quá trình này cần được thực hiện nhanh hơn để theo kịp tốc độ vận động của thị trường công nghệ.

Ở góc độ doanh nghiệp, Chủ tịch, kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel Tào Đức Thắng thẳng thắn, đã đến lúc tư duy hỗ trợ đổi mới sáng tạo cần chuyển mạnh từ "hỗ trợ đầu vào" sang "tạo đầu ra".

Theo ông Thắng, nhiều năm qua, chính sách chủ yếu tập trung vào kinh phí nghiên cứu, quỹ khoa học - công nghệ hay ưu đãi tài chính. Tuy nhiên, yếu tố quyết định việc doanh nghiệp có sẵn sàng đầu tư dài hạn hay không lại là khả năng tiêu thụ sản phẩm. Nếu không có thị trường, mọi khoản hỗ trợ nghiên cứu đều khó tạo ra giá trị kinh tế.

Vì vậy, Nhà nước cần sử dụng các công cụ như tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế kích cầu hoặc chính sách mua sắm công để tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ trong nước. Một gợi ý đáng chú ý là nghiên cứu áp dụng cơ chế voucher hỗ trợ phía khách hàng, thay vì cấp trực tiếp kinh phí cho doanh nghiệp. Khi người mua được hỗ trợ để lựa chọn sản phẩm công nghệ nội địa, doanh nghiệp sẽ buộc phải nâng cao chất lượng, tối ưu chi phí và cạnh tranh bằng năng lực thực chất.

"Cách làm này không chỉ tạo ra thị trường thực sự cho sản phẩm đổi mới sáng tạo, mà còn khắc phục tình trạng doanh nghiệp chỉ tập trung nhận kinh phí nghiên cứu mà chưa quan tâm đúng mức đến khả năng thương mại hóa", ông Thắng khẳng định.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Khoa, Tổng giám đốc Tập đoàn FPT nói thêm, Chính phủ cần sớm đầu tư hạ tầng dùng chung cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây sẽ là nền tảng để doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cùng thực hiện hoạt động R&D, rút ngắn thời gian nghiên cứu và giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu.

Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Hoàng Giang khuyến nghị, để quá trình thương mại hóa diễn ra hiệu quả, trước hết cần thay đổi cách tiếp cận trong định giá tài sản trí tuệ.

Theo đó, các cơ sở nghiên cứu phải xác định rõ mục tiêu định giá ngay từ đầu, phục vụ thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), cấp phép khai thác (licensing) hay chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ. Mỗi mục đích sẽ đòi hỏi phương pháp định giá khác nhau. Đồng thời, các nhóm nghiên cứu cần chuẩn bị đầy đủ dữ liệu và thông tin về công nghệ để quá trình thẩm định diễn ra nhanh chóng, tránh kéo dài do thiếu hồ sơ hoặc dữ liệu đầu vào.

Ông Giang cũng nhấn mạnh, kết quả định giá chỉ là căn cứ tham khảo trong quá trình đàm phán. Giá trị cuối cùng của tài sản trí tuệ vẫn phải do thị trường quyết định thông qua sự thỏa thuận giữa bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao. Điều quan trọng là phải tách bạch giá trị khoa học với giá trị kinh tế. Có những công nghệ mang giá trị khoa học rất lớn, nhưng thị trường chưa hình thành; ngược lại, cũng có những công nghệ được doanh nghiệp sẵn sàng trả giá cao vì giải quyết đúng nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Chính thị trường mới là "thước đo" chính xác nhất đối với giá trị của công nghệ.

Tin liên quan
Tin khác