| Quốc hội nghe tờ trình dự án luật. Ảnh: QH. |
Theo Chính phủ, thực tiễn quản lý hiện nay đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng cao hoạt động định danh từ định danh cá nhân sang “định danh vạn vật”, bao gồm phương tiện, địa điểm, hàng hóa, bất động sản, hạ tầng kết nối vạn vật và tài sản số.
Sáng 26/10, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử.
Tờ trình của Chính phủ nêu rõ, việc ban hành Luật nhằm hình thành khung định danh và xác thực điện tử an toàn, tin cậy; tạo công cụ pháp lý quan trọng giúp phòng ngừa tội phạm mạng, xử lý triệt để SIM nặc danh, tài khoản ảo, tình trạng lừa đảo trực tuyến và ngăn chặn các hình thức giả mạo sinh trắc học tinh vi từ công nghệ trí tuệ nhân tạo.
Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Luật sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận danh tính điện tử xuyên biên giới và định danh sản phẩm. Việc chuẩn hóa dữ liệu theo chuẩn mực chung giúp doanh nghiệp Việt Nam chủ động đáp ứng các quy định khắt khe của thị trường thế giới.
Về các nội dung cụ thể, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho biết, dự thảo xác định 5 nhóm đối tượng định danh điện tử, gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản vật chất và đối tượng vật chất khác; cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, âm thanh, video, ứng dụng, phần mềm và các dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian. Chính phủ được giao quy định việc định danh, xác thực điện tử đối với đối tượng thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu.
Về mô hình định danh điện tử, Chính phủ đề xuất thực hiện theo hai phương thức: Nhà nước đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng để trực tiếp thực hiện hoạt động định danh điện tử; tổ chức đủ điều kiện tự đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng và cơ sở hạ tầng để thực hiện hoạt động này.
Các đối tượng thuộc phương thức Nhà nước trực tiếp thực hiện gồm địa điểm, không gian; đối tượng thuộc dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng đã được chứng nhận sở hữu, sử dụng; sản phẩm, hàng hóa rủi ro cao và đối tượng bí mật nhà nước. Đối với các đối tượng còn lại, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ định danh thương mại.
Hệ thống định danh và xác thực điện tử gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; nền tảng định danh và xác thực điện tử; ứng dụng định danh quốc gia VNeID; hệ thống quản lý hiệu lực của danh tính điện tử và chứng thư điện tử xác nhận thông tin; cổng định danh và xác thực điện tử quốc gia cùng các phần mềm, ứng dụng, hệ thống thông tin khác. Các hệ thống thông tin có liên quan được kết nối để phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội.
Về xác thực điện tử, dự thảo quy định mọi đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh theo quy định của Luật là đối tượng xác thực điện tử. Đồng thời, thiết lập ba mô hình thực hiện hoạt động xác thực điện tử, gồm xác thực tập trung, xác thực trung gian và xác thực độc lập; quy định bắt buộc liên kết, xác thực danh tính điện tử đối với giao dịch trên nền tảng số thuộc một số lĩnh vực.
Đối với dịch vụ định danh, xác thực điện tử, dự thảo quy định điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin, nhân sự chuyên trách, quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, an ninh mạng, kết nối kỹ thuật với hệ thống và bảo hiểm trách nhiệm.
Dự thảo đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật Giao dịch điện tử, Luật Căn cước, Luật Chuyển đổi số, Luật Thương mại điện tử và Luật Đầu tư để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Chính phủ đề xuất trình Quốc hội khóa XVI cho ý kiến và thông qua dự án Luật tại Kỳ họp thứ 2.
Thẩm tra, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật.
Đối với việc mở rộng đối tượng định danh điện tử sang thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất, Ủy ban thẩm tra đánh giá là phù hợp xu thế. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng phạm vi đối tượng quá rộng, đề nghị thu hẹp hoặc phân định rõ danh mục bắt buộc và danh mục khuyến khích thực hiện; cân nhắc tính khả thi khi định danh các đối tượng phi vật chất như tệp dữ liệu, ứng dụng, sự kiện, hành vi.
Cơ quan thẩm tra cũng phản ánh ý kiến yêu cầu đánh giá kỹ tính khả thi về hạ tầng công nghệ, tài chính và nguồn nhân lực khi áp dụng định danh đối với các thực thể vật chất và đối tượng phi vật chất; đánh giá kỹ nguy cơ lộ lọt thông tin đối với đối tượng định danh chứa đựng bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh.
Về danh tính điện tử, mã định danh, có ý kiến cho rằng việc giao cơ quan chuyên ngành hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ tự quyết định các trường thông tin thu thập dễ dẫn đến lạm dụng, xâm phạm quyền riêng tư.
Vì vậy, đề nghị bổ sung quy định khung về các trường thông tin được phép thu thập; giao Chính phủ quy định giới hạn các trường thông tin, ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật và quán triệt nguyên tắc thu thập tối thiểu để bảo vệ quyền của chủ thể dữ liệu. Các quy định về thu thập, lưu trữ, xác thực dữ liệu sinh trắc học cũng cần tiếp tục được rà soát kỹ để bảo đảm không xâm phạm quyền riêng tư.
Về tổ chức cung cấp dịch vụ, Ủy ban nhất trí với chính sách xã hội hóa, cho phép các tổ chức đủ điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử.
Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị cơ quan nhà nước ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu và chuẩn dữ liệu dùng chung để tránh đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, thiếu đồng bộ. Cùng với đó, bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý và cơ chế bồi thường thiệt hại khi tổ chức cung cấp dịch vụ để xảy ra sự cố lộ lọt dữ liệu hoặc định danh, xác thực sai lệch.
Dự án Luật Định danh và xác thực điện tử sẽ được Quốc hội thảo luận tại tổ vào chiều 26/10.