Kinh doanh
Nâng dự trữ xăng dầu quốc gia
Hải Yến - 28/03/2026 10:42
Nguồn ngân sách để bảo đảm nâng mức dự trữ xăng dầu tương đương 90 ngày nhập ròng là thách thức không nhỏ với điều kiện hiện nay của Việt Nam, do đó cần lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt hơn để đạt mục tiêu hày.
Bộ Công thương nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực dự trữ xăng dầu, mục tiêu đảm bảo mức dự trữ tối thiểu 90 ngày nhập khẩu.

Cấp bách nâng dự trữ xăng dầu

Xung đột quân sự tại Trung Đông kéo dài 1 tháng qua đã khiến giá dầu và giá xăng dầu tại nhiều quốc gia tăng mạnh. Dù Việt Nam vẫn đang chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm nguồn cung, ổn định thị trường trong nước, song bài toán gia tăng dự trữ xăng dầu quốc gia càng trở nên cấp bách hơn.

Mới nhất, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Công thương nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực dự trữ xăng dầu, hướng tới mục tiêu đảm bảo mức dự trữ tối thiểu tương đương 90 ngày nhập khẩu. Đồng thời, Bộ này cũng được yêu cầu khẩn trương làm việc với các đối tác nước ngoài để triển khai ngay việc xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện nay, dự trữ xăng dầu của Việt Nam được hình thành từ ba nguồn chính: Dự trữ thương mại tại các doanh nghiệp đầu mối (khoảng 20 ngày) và thương nhân phân phối (khoảng 5 ngày); dự trữ sản xuất tại hai nhà máy lọc dầu, cùng với dự trữ quốc gia. 

Tuy nhiên, riêng nguồn dự trữ quốc gia mới chỉ đáp ứng khoảng 7 ngày sử dụng (tức khoảng 9 ngày nhập ròng). 

Việc khẩn trương đầu tư, xây dựng hệ thống kho dự trữ xăng dầu quốc gia là yêu cầu cấp thiết, nhằm đáp ứng mục tiêu dự trữ tương đương 90 ngày nhập ròng theo tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam

Kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng và ngày càng phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu việc xây dựng một chiến lược dự trữ xăng dầu quy mô lớn không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Khi thị trường xăng dầu thế giới biến động, thì việc có được nguồn dự trữ đủ lớn là “phao cứu sinh” cho thị trường nội địa trong tình huống cấp bách.

 

TS Giang Chấn Tây, Giám đốc Công ty TNHH MTV Bội Ngọc (Trà Vinh) cho biết, phần lớn lượng xăng dầu dự trữ tại Việt Nam hiện vẫn do các doanh nghiệp đầu mối thực hiện theo nghĩa vụ kinh doanh. Cách tiếp cận này giúp giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, nhưng về bản chất vẫn là dự trữ mang tính thương mại, chưa đáp ứng yêu cầu của một hệ thống dự trữ năng lượng mang tính chiến lược.

Dể nâng cao khả năng ứng phó với biến động nguồn cung, ông Tây cho rằng, Nhà nước cần chủ động xây dựng hệ thống kho dự trữ xăng dầu có quy mô đủ lớn, bảo đảm nguồn cung trong khoảng 60 ngày, tương đương khoảng 3,6 tỷ lít (khoảng 3,6 triệu m3 sức chứa).

Kinh nghiệm từ các dự án kho xăng dầu lớn trên thế giới, suất đầu tư bình quân cho kho xăng dầu khoảng 300 USD/m3 sức chứa. Với quy mô nêu trên, tổng chi phí xây dựng hệ thống kho dự trữ ước tính khoảng 1,1 tỷ USD. 

Thách thức vốn lớn, cần cách tiếp cận linh hoạt

Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam cho rằng, với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, việc dồn toàn bộ ngân sách để đạt mục tiêu dự trữ quốc gia tương đương 90 ngày là thách thức lớn. Do đó, cần lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt hơn, theo hướng kết hợp giữa dự trữ quốc gia và dự trữ lưu thông tập trung.

Do đó, song hành với dự trữ xăng dầu quốc gia, cần tạo thêm nguồn khác như dự trữ xăng dầu lưu thông tập trung thông qua Quỹ bình ổn giá xăng dầu, quỹ này sẽ thực hiện mua xăng dầu khi giá rẻ..., ông Bảo gợi ý.

Cụ thể, cần nghiên cứu xây dựng nguồn dự trữ trong lưu thông. Thay vì duy trì Quỹ bình ổn giá chủ yếu dưới dạng tiền để can thiệp khi giá biến động, có thể xem xét chuyển đổi một phần sang dự trữ hàng hóa lưu thông do Nhà nước quản lý. Nguồn dự trữ này nên được tập trung, không giao cho doanh nghiệp, mà do Bộ Công thương trực tiếp quản lý, nhằm nâng cao khả năng chủ động điều tiết thị trường.

Việc kết hợp giữa dự trữ quốc gia và dự trữ trong lưu thông sẽ giúp kéo dài quy mô dự trữ, hướng tới mục tiêu 90 ngày nhập ròng, thậm chí cao hơn. Thực tế, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc đã xây dựng mức dự trữ vượt ngưỡng này, có nơi trên 100 ngày, cho thấy đây là yếu tố có tính chất “huyết mạch” đối với an ninh năng lượng.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách tài khóa. Liên quan đến chính sách thuế, thời gian qua đã có điều chỉnh theo hướng ưu đãi, trong đó thuế nhập khẩu từ một số thị trường được đưa về mức 0%, nhưng mới áp dụng đến ngày 30/4. Sau thời điểm này, mức thuế dự kiến sẽ điều chỉnh tăng trở lại, do đó cần được cân nhắc kỹ lưỡng để bảo đảm mục tiêu ổn định thị trường.

"Nếu các chính sách thuế được duy trì ổn định trong dài hạn, doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều lựa chọn về nguồn cung, không chỉ giới hạn ở các nước ASEAN với thuế suất nhập khẩu 0%, mà còn có thể mở rộng sang các thị trường khác như Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều quốc gia ngoài khu vực", theo ông Bảo.

Điều này không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn cung mà còn góp phần giảm chi phí, nhờ tiếp cận được mức giá cạnh tranh hơn và nguồn hàng dồi dào hơn.

Theo Báo cáo Năng lượng ASEAN 2026 (ASEAN Energy in 2026), ASEAN đang đối mặt với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào dầu nhập khẩu (chiếm 66% vào năm 2024), trong đó hơn 90% dầu thô nhập khẩu đến từ bên ngoài khu vực, trong đó phần lớn đến từ Trung Đông, khu vực vốn thường xuyên chịu ảnh hưởng của xung đột, trừng phạt và bất ổn chính trị.

Trong đó, Việt Nam đã chuyển từ nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu ròng sản phẩm dầu và khí, và mức phụ thuộc nhập khẩu dự kiến tiếp tục tăng khi nhu cầu điện, giao thông và công nghiệp tăng nhanh. Khi dự trữ xăng dầu mỏng sẽ rất khó chủ động với biến động của thị trường xăng dầu thế giới.

Về dài hạn, Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương cùng các bộ, cơ quan nghiên cứu giải pháp để sớm nâng năng lực tự chủ năng lượng, như tiếp tục đa dạng hóa nguồn cung, tái cơ cấu các đầu mối kinh doanh xăng dầu...

Tin liên quan
Tin khác