| Hoàn thiện tàu lai xuất khẩu tại Nhà máy đóng tàu Sông Cấm (Ảnh: P.V) |
Nhiệm vụ chiến lược quốc gia
“Chúng tôi vừa nhận được chỉ đạo của Bộ Xây dựng về việc nghiên cứu triển khai Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia. Đây có thể xem là bước ngoặt, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho công nghiệp hàng hải Việt Nam”, ông Lê Đỗ Mười, Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam chia sẻ.
Đánh giá của người đứng đầu Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam không phải không có cơ sở. Không chỉ trực tiếp quản lý lĩnh vực hàng hải, ông Lê Đỗ Mười còn có nhiều năm nghiên cứu về chiến lược phát triển giao thông khi từng giữ cương vị Viện trưởng Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông vận tải.
Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam cũng được Bộ Xây dựng giao chủ trì xây dựng Đề án nâng cao năng lực các doanh nghiệp đóng tàu trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc triển khai Kết luận số 125-TB/VPTW được dự kiến sẽ là cơ sở để cơ quan này rà soát, cập nhật Đề án theo định hướng phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
Tại Công văn số 11299/BXD-QLDN ban hành giữa tuần này, Bộ Xây dựng giao Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu toàn diện Kết luận số 125, xây dựng kế hoạch triển khai và tham mưu Bộ ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện.
Đối với Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC), Bộ Xây dựng yêu cầu khẩn trương nghiên cứu Kết luận số 125, xây dựng phương án xử lý doanh nghiệp theo đúng chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và báo cáo Bộ trước ngày 31/7/2026.
Theo ông Lê Đỗ Mười, điểm khác biệt lớn nhất của Kết luận số 125 là lần đầu tiên công nghiệp hàng hải được đặt ở tầm nhiệm vụ chiến lược quốc gia. Theo đó, phát triển công nghiệp hàng hải, với công nghiệp đóng tàu là một cấu phần trọng yếu, không chỉ nhằm phục vụ tăng trưởng kinh tế mà còn gắn trực tiếp với quốc phòng, an ninh, logistics và an ninh chuỗi cung ứng.
Một thay đổi căn bản khác là yêu cầu phát triển công nghiệp đóng tàu trong mối liên kết với toàn bộ hệ sinh thái hàng hải, từ đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa, cảng biển, logistics, công nghiệp phụ trợ, dịch vụ kỹ thuật, đào tạo, nghiên cứu, đăng kiểm đến tài chính, bảo hiểm.
“Kết luận nhấn mạnh không phát triển từng nhà máy, từng địa phương hay từng sản phẩm một cách biệt lập, mà phải hình thành chuỗi liên kết đồng bộ, tạo thị trường ổn định và nâng cao hiệu quả tổng thể của cả ngành. Với định hướng đó, chúng tôi sẽ rà soát, cập nhật Đề án nâng cao năng lực các doanh nghiệp đóng tàu trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để bảo đảm bám sát tinh thần chỉ đạo mới”, ông Mười cho biết.
Tại dự thảo Đề án nâng cao năng lực các doanh nghiệp đóng tàu trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trình Bộ Xây dựng vào giữa tháng 7/2026, cơ quan soạn thảo xác định phát triển công nghiệp tàu thủy là yêu cầu tất yếu để thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế biển.
Theo dự thảo, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu chiếm 0,8-0,9% sản lượng đóng tàu toàn cầu, đáp ứng nhu cầu đóng mới, thay thế đội tàu vận tải biển trong nước với quy mô khoảng 4-5 triệu tấn, từng bước khôi phục năng lực sản xuất sau quá trình xử lý SBIC.
Tầm nhìn đến năm 2050, Đề án đặt mục tiêu nâng thị phần đóng tàu của Việt Nam lên khoảng 2% sản lượng toàn cầu, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa lên trên 50%.
Tuy nhiên, hiện Đề án mới chủ yếu tập trung vào nâng cao năng lực ngành đóng tàu, trong khi Kết luận số 125 hướng tới xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia toàn diện, trong đó công nghiệp đóng tàu là một cấu phần của chuỗi giá trị kết nối với cảng biển, đội tàu, logistics, công nghiệp hỗ trợ và các ngành kinh tế biển mới.
Điều đó đòi hỏi Đề án phải được rà soát, cập nhật theo hướng góp phần hình thành một hệ sinh thái công nghiệp hàng hải hoàn chỉnh, gắn nhu cầu phát triển đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu công vụ, dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi và quốc phòng, an ninh với năng lực công nghiệp trong nước trên nguyên tắc cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả.
“Đây không còn là câu chuyện của riêng ngành đóng tàu, mà là bài toán phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia, đòi hỏi sự tham gia của nhiều bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp”, ông Mười nhấn mạnh.
Giữ nguồn lực quý về đóng tàu
Một điểm nhấn quan trọng khác của Kết luận số 125 là yêu cầu rà soát toàn diện năng lực ngành công nghiệp đóng tàu. Theo đó, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đánh giá, phân loại đầy đủ năng lực của toàn ngành trên cơ sở một hệ thống dữ liệu thống nhất; xác định rõ những năng lực cần bảo toàn, nâng cấp, liên kết, chuyển đổi hoặc xử lý; đồng thời nhận diện các doanh nghiệp, tài sản, công nghệ, dữ liệu và đội ngũ lao động kỹ thuật có giá trị chiến lược để có phương án khai thác, phát triển phù hợp. Kết quả rà soát sẽ là căn cứ quan trọng cho việc hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện.
Đáng chú ý, đối với SBIC - đơn vị đang nắm giữ khoảng 50% năng lực đóng tàu của cả nước, Tổng Bí thư giao Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan nghiên cứu, đánh giá và căn cứ quy định của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 để đề xuất phương án xử lý theo hướng phục hồi và phát triển.
Mục tiêu là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, chủ nợ, người lao động và các bên liên quan; đồng thời bảo toàn, khai thác có chọn lọc những tài sản, hạ tầng, công nghệ và nguồn nhân lực còn giá trị, không để thất thoát tài sản nhà nước hoặc làm mai một năng lực công nghiệp khó có thể tái tạo.
Kết luận cũng yêu cầu việc xử lý phải đúng chức năng, thẩm quyền, không can thiệp vào việc xem xét, quyết định từng vụ việc cụ thể; phương án cuối cùng sẽ được báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định.
Được biết, hiện SBIC vẫn đang thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ. Một mặt, doanh nghiệp tiếp tục triển khai phương án xử lý theo Nghị quyết số 220/NQ-CP của Chính phủ; mặt khác, vẫn duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh ở mức cần thiết, an toàn và có kiểm soát nhằm bảo toàn tài sản, duy trì việc làm cho người lao động, tạo nguồn thu hợp pháp và hỗ trợ quá trình xử lý doanh nghiệp.
Trong khi đó, để giữ vững những năng lực cốt lõi của ngành công nghiệp đóng tàu, dự thảo Đề án cũng đề xuất nghiên cứu thành lập Tổng công ty Đóng tàu quốc gia hoặc đầu tư bổ sung vốn nhà nước cho một tập đoàn, tổng công ty hoặc doanh nghiệp nhà nước theo mô hình phù hợp để tham gia đấu giá mua lại toàn bộ hoặc một số nhà máy trọng điểm của SBIC.
Cùng với đó, Đề án kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, địa phương có doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực liên quan phổ biến thông tin về quá trình đấu giá tài sản của SBIC để các doanh nghiệp có nhu cầu nghiên cứu, tham gia phù hợp với năng lực và nhu cầu thực tế. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng các cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư sau khi trúng đấu giá duy trì hoạt động, nâng cao năng lực sản xuất thông qua các chính sách về tín dụng, thuế và đất đai.
Đồng tình với định hướng này, ông Bùi Thiên Thu, Giáo sư Đại học Okayama (Nhật Bản), Phó chủ tịch Thường trực Hội Cảng - Đường thủy - Thềm lục địa Việt Nam cho rằng, bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp quốc phòng, cần có cơ chế đủ mạnh để khơi thông nguồn lực từ khu vực tư nhân.
Theo ông Bùi Thiên Thu, công nghiệp đóng tàu cần được đưa vào danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn và quỹ đất.
“Chính phủ cần thiết kế các gói tín dụng dài hạn với lãi suất ưu đãi để hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đầu tư đóng tàu công nghệ cao; cho phép sử dụng chính con tàu hình thành từ vốn vay hoặc quyền khai thác cảng làm tài sản bảo đảm với tỷ lệ định giá phù hợp. Bên cạnh đó, cần áp dụng chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế sử dụng mặt nước trong 5-10 năm đầu đối với các dự án đầu tư vào công nghệ đóng tàu phục vụ xuất khẩu”, ông Bùi Thiên Thu đề xuất.